Hạnh Các Thánh từ ngày 13.11.2022 đến 19.11.2022

Ngày đăng: 1:50 AM - 12/11/2022

Hạnh tích Các thánh Tử đạo Việt Nam

https://hddmvn.net/hanh-tich-cac-thanh-tu-dao-viet-nam-2/

Nghe giảng

Suy niệm

Trong bầu khí hân hoan mừng đại lễ Các thánh Tử đạo Việt Nam (TĐVN), xin giới thiệu tác phẩm “Uống Nước Nhớ Nguồn” do linh mục PX. Đào trung Hiệu OP và nhóm anh em Đa Minh Việt Nam biên soạn. Riêng 38 thánh Tử đạo thuộc Gia đình Đa Minh, xin nối đường dẫn mới trên hddmvn.net.

Ngoài 117 hiển thánh, GHVN còn kính ba chân phước Tử đạo là chân phước Anrê Phú Yên và 2 trong số 17 chân phước Lào là cha Giuse Thạo Tiến thuộc linh mục đoàn giáo phận Thanh Hóa và cha Gioan B. Malot, MEP, mộ ngài chôn tại giáo xứ Vĩnh Hội, Hương Khê, Hà Tĩnh.

Uống nước nhớ nguồn
Chân dung Các thánh TĐVN
TĐVN tìm theo vần A, B, C
TĐVN theo ngày kính
TĐVN theo chức vụ
Kinh Các thánh Tử Đạo Việt Nam
Chân phước Anrê Phú Yên
+ Chân phước GB Malô và Giuse Thạo Tiến
Bài giảng Đức Gioan Phaolô : lễ tuyên thánh 19.6.1988

38 Tử đạo Việt Nam thuộc Gia đình Đa Minh

13 Tháng Mười Một
Thánh Frances Xavier Cabrini
(1850-1917)

Thánh Frances Xavier Cabrini là công dân Hoa Kỳ đầu tiên được phong Thánh. Chính lòng tin tưởng mãnh liệt vào sự chăm sóc yêu thương của Thiên Chúa, đã ban cho thánh nữ sức mạnh để trở nên một phụ nữ dũng cảm làm việc cho Ðức Kitô.

Thánh Frances sinh ở Lombardi, nước Ý vào năm 1850, trong một gia đình có đến 13 người con. Khi 18 tuổi, ngài ao ước trở thành một nữ tu nơi ngài theo học sư phạm, nhưng vì sức khỏe yếu kém nên bị từ chối. Sau đó, thánh nữ làm việc bác ái ở Cô Nhi Viện Ðấng Quan Phòng ở Cadogne, nước Ý. Vào tháng Chín 1877, ngài tuyên khấn và mặc áo dòng.

Khi đức giám mục đóng cửa Cô nhi viện vào năm 1880, ngài đặt sơ Frances làm tu viện trưởng tu hội Nữ Tu Thánh Tâm Truyền Giáo và bảy phụ nữ khác làm việc ở Cô nhi viện cũng đã gia nhập tu hội này.

Ngay từ khi còn nhỏ, Thánh Frances đã có ý định đi truyền giáo ở Trung Cộng, nhưng theo sự khuyên bảo của Ðức Giáo Hoàng Lêo XIII, cùng với sáu nữ tu khác, ngài đến thành phố Nữu Ước để phục vụ hàng ngàn người Ý di dân đang sinh sống ở đây.

 Ngài gặp nhiều chán nản và khó khăn trên bước hành trình. Khi đến thành phố Nữu Ước, căn nhà được hứa để làm Cô nhi viện đầu tiên ở Hoa Kỳ thì lại không có. Ðức tổng giám mục khuyên ngài trở về Ý. Nhưng Frances, một phụ nữ can đảm có thừa, đã rời bỏ tư dinh của đức tổng và tự tay gầy dựng Cô nhi viện. Và ngài đã thành công.

Trong 35 năm, Thánh Frances Xavier Cabrini đã thành lập 67 trung tâm để chăm sóc người nghèo, trẻ mồ côi, người ít học và bệnh nhân. Nhận thấy nhu cầu cần thiết của người di dân Ý trước viễn ảnh bị mất đức tin, ngài mở trường học và các lớp dạy giáo lý cho người lớn.

Cho đến ngày ngài qua đời ở Chicago, tiểu bang Illinois ngày 22.12.1917, tu hội của ngài đã có mặt tại các nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Hoa Kỳ và Nam Mỹ.

Vào năm 1946, ngài được Ðức Giáo Hoàng Piô XII tuyên phong Hiển thánh và đặt làm quan thầy của người di dân.

Lời Bàn

Lòng thương người và sự tận tụy của Mẹ Cabrini vẫn còn được nhận thấy qua hàng trăm ngàn nữ tu của ngài, họ chăm sóc bệnh nhân ở bệnh viện, viện dưỡng lão và các trung tâm quốc gia. Chúng ta than phiền về sự tốn kém y tế trong một xã hội giầu có, nhưng tin tức hàng ngày cho thấy hàng triệu người khác trên thế giới không có một chút gì được gọi là y tế, và họ đang mời gọi những người noi gương Mẹ Cabrini đến, để phục vụ người dân trên đất nước của họ.

Lời Trích

Trong nghi lễ phong Thánh cho Mẹ Cabrini ngày 07.7.1946, Ðức Giáo Hoàng Piô XII tuyên bố: “Mặc dù hiến pháp của tu hội ngài rất đơn sơ, nhưng ngài được ban cho một tinh thần phi thường đến nỗi, một khi tin rằng đó là ý Chúa, ngài không để bất cứ điều gì cản trở việc thực hiện, mà những công trình ấy vượt quá sức lực của một phụ nữ”.

Ngày 14.11: Thánh Laurensô Ôtô

 Thánh Laurensô Ôtô sinh tại đất nước Ai Len vào năm 1128. Thánh nhân là con trai của một tù trưởng. Khi mới lên 10 tuổi, ông lãnh chúa nước láng giềng đem quân sang xâm chiếm đất đai của thân phụ Laurensô Ôtô và bắt ngài đi đày. Laurensô phải chịu đau khổ suốt hai năm. Sau đó, thân phụ Laurensô bắt ông lãnh chúa phải trả lại con trai cho ông để cậu phục vụ đức giám mục. Ngay khi ông lãnh chúa bằng lòng, thân phụ Laurensô liền vội vã đến thăm con trai mình và ông đã biết ơn cùng đem con về nhà

Tù trưởng mong muốn một trong số các con trai ông sẽ dâng mình phục vụ Giáo hội. Đang lúc phân vân không biết nên chọn ai thì Laurensô Ôtô mỉm cười và bảo thân phụ đừng băn khoăn nữa. “Đó là niềm mơ ước của con,” Laurensô Ôtô nói, “vì được phục vụ Thiên Chúa trong Giáo hội chính là gia nghiệp đời con!” Vì thế, thân phụ Laurensô Ôtô đã dẫn ngài tới và trao cho đức giám mục coi sóc.

Sau đó, thánh Laurensô Ôtô trở thành linh mục và đan trưởng của một tu viện lớn. Khi thực phẩm trở nên khan hiếm trong khắp vùng xung quanh tu viện, vị đan trưởng tốt lành này đã đem phân phát rất nhiều lương thực để giúp dân chúng thoát khỏi nạn đói. Vì là bề trên, thánh Laurensô Ôtô cũng phải giải quyết nhiều vấn đề khó khăn. Một số đan sĩ đã phê bình ngài vì quá nghiêm khắc. Nhưng Laurensô Ôtô vẫn một mực hướng dẫn cộng đoàn theo lối khổ chế dù bị chỉ trích. Sau đó là chuyện những kẻ cướp bóc và những tay tội phạm sống ở những quả đồi bên cạnh nhà dòng. Tuy nhiên, chẳng có gì làm cho Laurensô Ôtô phải lo sợ cả!

Thánh Laurensô Ôtô quá nổi danh đến nỗi ít lâu sau ngài được chọn làm tổng giám mục thành Đublin. Trong chức vị mới này, Laurensô Ôtô vẫn sống thánh thiện như trước. Mỗi ngày, thánh nhân đều mời những người nghèo khổ đến tiếp chuyện với ngài. Ngoài ra Laurensô Ôtô cũng giúp đỡ nhiều người khác nữa. Thánh nhân rất mực yêu mến dân tộc của ngài và đất nước Ai Len, và ngài đã làm việc hết sức mình để giữ cho quê hương được thịnh vượng. Lần kia, có một kẻ thù đã tấn công Laurensô Ôtô vừa lúc ngài đi lên bàn thờ dâng thánh lễ. Laurensô Ôtô bị đánh gục xuống sàn nhà bất tỉnh, nhưng ngay lập tức, ngài lại tỉnh dậy. Laurensô Ôtô nhờ người rửa vết thương, và ngài đi dâng thánh lễ liền sau đó.

Sau những năm vất vả làm việc cho Giáo hội, thánh Laurensô Ôtô bị bệnh rất nặng. Khi được hỏi có ao ước điều gì không, đức tổng giám mục thánh thiện chỉ mỉm cười và trả lời: “Thiên Chúa biết rõ tôi chẳng có lấy một đồng xu dính túi!” Thánh Laurensô Ôtô đã bố thí hết mọi thứ cho tha nhân ngay từ khi ngài tận hiến mình cho Thiên Chúa. Thánh nhân về trời ngày 14 tháng Mười Một năm 1180. Đến năm 1225, Laurensô Ôtô được đức thánh cha Hônôriô III tôn phong hiển thánh.

 Bằng đời sống của mình, thánh Laurensô Ôtô nhắc nhớ chúng ta rằng mối quan tâm chính yếu trong mọi công việc của chúng ta là phải làm hài lòng Thiên Chúa. Chúng ta hãy nài xin thánh Laurensô Ôtô giúp chúng ta can đảm thực hiện những gì là chân thật ngay cả khi bị người khác chỉ trích phê bình.

14 Tháng Mười Một
Thánh Gertrude
(1256? – 1302)
 Thánh Gertrude là một trong những vị thần bí nổi tiếng của thế kỷ 13. Cùng với Thánh Mechtild, thánh nữ tập luyện một đời sống tâm linh gọi là “hôn nhân huyền nhiệm”, đó là ngài trở nên vị hôn thê của Ðức Kitô. Ðời sống của ngài kết hợp mật thiết với Ðức Giêsu và Thánh Tâm, từ đó dẫn đến đời sống của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Thánh Gertrude sinh ở Eisleben thuộc Saxony. Khi lên năm tuổi, ngài được giao cho các nữ tu Benedictine ở Rodalsdorf chăm sóc. Sau này, ngài trở thành một nữ tu, và vào năm 1251 ngài làm tu viện trưởng của chính tu viện ấy.

Thánh Gertrude rất thích học hỏi. Ngài giỏi tiếng Latinh, và sáng tác thơ phú dựa vào Phụng Vụ Thánh. Cuộc đời của thánh nữ, dù không có những biến động sôi nổi hay những hành động đáng kinh ngạc, nhưng sinh hoạt tinh thần của ngài thật đáng khâm phục. Ngài sống cuộc đời bí nhiệm trong tu viện, cuộc đời ẩn giấu với Ðức Kitô. Ngài nổi tiếng là người sùng kính Nhân Tính Thiêng Liêng của Ðức Giêsu trong sự Thống Khổ và trong bí tích Thánh Thể, và ngài cũng yêu mến Ðức Trinh Nữ Maria một cách đặc biệt. Thánh nữ từ trần năm 1302.

Lời Bàn

Ðời sống của Thánh Gertrude là một nhắc nhở cho chúng ta thấy tâm điểm của cuộc đời Kitô hữu là cầu nguyện: một cách riêng tư và trong phụng vụ, một cách bình thường hay huyền nhiệm, luôn luôn có tính cách cá nhân.

15 Tháng Mười Một (1206-1280)
Thánh Albert Cả – Bổn mạng Tu viện Anbêtô (Sài Gòn)
 
 
 Tiểu sử
 

Thánh An-be-tô sinh tại La-vin-gi-a, xứ Xơ-vê-vi-a nước Ðức, vào cuối thế kỷ XII hay đầu thế kỷ XIII. Tốt nghiệp đại học Pa-ta-vi-a, thánh An-be-tô lãnh tu phục Dòng Ða Minh do chính chân phước Giô-đa-nô-nô Xa-xô-ni-a trao.

Từ năm 1242-1248, thánh An-be-tô làm giáo sư tại Pa-ri. Trong số các môn sinh của người, có thánh Tô-ma A-quy-nô là xuất sắc nhất. Với trí óc quảng bác, thánh An-be-tô đã dạy cho các sinh viên, từ khắp nơi quy tụ về Pa-ri, một khoa học mới, là khoa triết lý của A-rít-tốt, dựa theo bản dịch của người Do Thái và Ả-rập. Năm 1248, thánh An-be-tô làm viện trưởng học viện mới được thành lập tại Cô-lô-ni-a, và thánh Tô-ma A-quy-nô cũng theo người về đây. Sau khi đã đảm nhận nhiều chức vụ khác nhau, người được bầu làm giám tỉnh tỉnh dòng Ðức. Người đã cùng với thánh Bô-na-ven-tu-ra quyết liệt biện hộ cho các dòng hành khất được quyền giảng dạy trong các đại học.

 Năm 1260, người được tấn phong làm giám mục thành Ra-tít-bon, nhưng hai năm sau, vì nghĩ mình bất xứng, người xin từ nhiệm để trở về với công việc nghiên cứu. Người đã tài tình liên kết đức khôn ngoan của chư thánh với kiến thức nhân loại. Vốn lừng danh vì các tác phẩm đã biên soạn và tài sư phạm, người còn lẫy lừng hơn nữa bởi đức độ vẹn toàn và đức ái mục vụ. Người cũng nổi tiếng về lòng tôn sùng bí tích Thánh Thể và kính mến Ðức Trinh nữ, Ðấng đã củng cố người trong chí hướng tu trì. Người để lại nhiều tác phẩm thánh khoa cũng như khoa học đặc sắc. Người được xứng đáng mệnh danh là “Tiến sĩ bách khoa” và “Tôn sư”. Người qua đời ngày 15-11-1280 tại Cô-lô-ni-a.

Năm 1459, Ðức Pi-ô II tôn phong người vào hàng những tiến sĩ thánh thiện của Hội Thánh. Ngày 16-12-1931, Ðức Pi-ô XI tuyên dương người là hiển thánh. Ðức Pi-ô XII đặt người làm bổn mạng các khoa học tự nhiên.

Bài đọc : Hc 6,18-21.33-37;Gc 3,13-18 Tin Mừng : Mt 25,14-23

Lời nguyện : Lạy Chúa, Chúa đã cho vị thánh chúng con mừng kính hôm nay
xứng danh là An-be-tô Cả, vì đã tìm phối hợp kiến thức loài người
với chân lý mạc khải. Xin cho chúng con biết thụ giáo với thánh nhân
để càng tiến bộ về khoa học, chúng con càng hiểu biết và yêu mến Chúa hơn. Chúng con cầu xin

Lời Bàn

Kitô hữu ngày nay phải đối diện với sự tràn ngập kiến thức trong mọi lãnh vực. Họ cần đọc báo chí Công Giáo ngày nay, để biết được phản ứng của Giáo Hội trước những khám phá mới về khoa học xã hội, về lối sống người Kitô hữu cũng như thần học Kitô Giáo. Khi phong thánh cho Thánh Albert, Giáo Hội đã coi sự quý trọng chân lý, bất cứ tìm thấy ở đâu, như đặc tính thánh thiện của ngài. Tính hiếu kỳ của thánh nhân, đã khiến ngài đào xới trong kho tàng khôn ngoan của triết học, mà Giáo Hội thời ấy đang sôi nổi với những khó khăn.

Lời Trích

“Có những người muốn hiểu biết chỉ để hiểu biết; đó là sự tò mò đáng hổ thẹn. Có những người muốn hiểu biết, để nhờ đó họ được nổi tiếng; đó cũng là sự phù hoa và nhục nhã. Những người khác lại muốn hiểu biết để kiếm tiền hay thăng quan tiến chức; đó cũng là điều mất thể diện. Nhưng cũng có những người muốn hiểu biết, để họ có thể sinh lợi cho chính linh hồn họ và linh hồn người khác; đó là lòng bác ái. Trong những loại hiểu biết kể trên, chỉ có loại sau cùng là biết sử dụng kiến thức cách xứng hợp” (Thánh Bernard, Bài Giảng Về Diễm Ca).

16 Tháng Mười Một
Thánh Margaret ở Tô Cách Lan
(1045-1093)

 Thánh Margaret ở Tô Cách Lan quả thật là một phụ nữ tự do – trong ý nghĩa tự do để trở nên con người đích thực. Ðối với ngài, điều đó có nghĩa được tự do để yêu mến Thiên Chúa và phục vụ tha nhân.

Margaret không phải là người Tô Cách Lan. Ngài là con gái của Công Chúa Agatha Hung Gia Lợi và Thái Tử Edward Atheling của Anglo-Saxon. Thời niên thiếu, ngài sống trong triều đình của người bác là Edward, vua nước Anh, người bảo vệ đức tin. Khi bị William xâm chiếm, trên đường chạy trốn, gia tộc ngài bị đắm tầu ở bờ biển Tô Cách Lan. Vua Malcolm của Tô Cách Lan làm quen với hoàng tộc này, và ông đã say mê sự duyên dáng cũng như vẻ đẹp của Margaret. Và họ đã kết hôn ở lâu đài Dunfermline năm 1070.

Vua Malcolm là người tốt bụng, nhưng cộc cằn và không có học thức, cũng giống như quê hương của ông. Vì tình yêu của Malcolm dành cho Margaret mà bà có thể thay đổi tính tình nóng nẩy của ông, cũng như chỉ bảo cách đối xử và giúp ông trở nên một vị vua nhân đức. Bà đã biến triều đình thành một nơi lịch thiệp và mỹ miều. Ông đã để mọi việc trong nước cho bà quản trị, và thường hỏi ý của bà khi có vấn đề quốc sự.

Margaret là một ơn huệ Chúa ban cho người dân Tô Cách Lan. Trước khi bà đến đây, có rất nhiều người dốt nát và nhiều hủ tục trong nước. Bà tìm cách cải tiến quê hương chồng, bằng cách cổ võ việc giáo dục và nghệ thuật. Về cải cách tôn giáo, bà khích lệ tổ chức các thượng hội đồng, và đích thân tham dự các buổi thảo luận nhằm chấn chỉnh những tệ đoan tôn giáo rất phổ thông thời ấy của tu sĩ cũng như giáo dân, tỉ như vấn đề buôn thần bán thánh, cho vay lời cắt cổ và loạn luân. Cùng với đức lang quân, bà xây dựng nhiều nhà thờ trong nước, và chính tay bà thêu áo lễ cho các linh mục.

Margaret không chỉ là một hoàng hậu, mà còn là một người mẹ gương mẫu. Thiên Chúa đã ban cho ông bà sáu con trai và hai con gái. Ðích thân bà trông coi việc giáo dục cũng như dạy giáo lý cho con. Người con út của bà sau này là Thánh David.

Mặc dù rất bận rộn với công việc nhà cũng như việc nước, bà cố giữ mình khỏi bị ảnh hưởng của thế gian. Ðời sống riêng tư của bà rất khắc khổ. Bà dành thời giờ để cầu nguyện và đọc Kinh Thánh. Bà ăn uống thanh cảnh và ngủ rất ít để có thời giờ suy niệm. Hàng năm, hai ông bà tuân giữ hai mùa Chay, một lần trước Phục sinh và một lần trước Giáng Sinh. Trong thời gian này bà thường thức giấc vào nửa đêm để đi dự Thánh Lễ. Trên đường về, bà rửa chân cho sáu người nghèo và bố thí cho họ. Mỗi khi bà xuất hiện nơi công cộng là bị những người ăn xin vây quanh, và không bao giờ bà từ chối họ. Người ta kể rằng, trước khi bà ngồi xuống dùng bữa tối, bà thường dọn thức ăn cho chín trẻ mồ côi và 24 người nghèo.

Năm 1093, Vua William Rufus bất ngờ tấn công vào thành Alnwick. Vua Malcolm và người con cả là Edward bị giết chết. Bà Margaret, cũng bị thương nặng, và bốn ngày sau khi chồng bà từ trần thì bà cũng trút hơi thở cuối cùng.

Lời Bàn

Có hai cách thi hành việc bác ái: cách “sạch sẽ” và cách “bẩn thỉu.” Cách “sạch sẽ” là tặng tiền bạc, quần áo cho các tổ chức phục vụ người nghèo. Cách “bẩn thỉu” là dùng chính bàn tay của mình để phục vụ mà không sợ dơ bẩn. Nhân đức trổi vượt của Thánh Margaret là lòng thương người nghèo. Mặc dù rất giầu sang, nhưng ngài đã đích thân thăm viếng người bệnh hoạn và chăm sóc họ với chính đôi tay của mình. Trong mùa Vọng và mùa Chay, hai ông bà đã quỳ xuống để phục vụ các trẻ em mồ côi và người nghèo hèn. Giống như Ðức Kitô, bà đã thi hành bác ái trong phương cách “bẩn thỉu”.

Lời Trích

“Khi bà lên tiếng, trong lời nói đầy sự khôn ngoan ấy có sức thay đổi lòng người. Khi bà im lặng, sự thinh lặng đầy suy tư. Toàn thể bề ngoài của bà phù hợp với tính tình trầm lặng, mà dường như bà được sinh ra với một cuộc đời nhân đức” (Turgot, cha giải tội của Thánh Margaret).

https://hddmvn.net/16-thang-muoi-mot-thanh-margaret-o-to-cach-lan-1045-1093/

17 Tháng Mười Một
Thánh Elizabeth ở Hung Gia Lợi
(1207-1231)
 

Tuy cuộc đời của Thánh Elizabeth thật ngắn ngủi, nhưng lòng thương yêu ngài dành cho người nghèo và người đau khổ thật lớn lao, đến nỗi ngài được Giáo Hội đặt làm quan thầy của các tổ chức bác ái Công Giáo, và của Dòng Ba Phanxicô. Là con gái của vua Hung Gia Lợi, thay vì chọn một đời sống xa hoa nhàn hạ, Thánh Elizabeth đã đi theo con đường khổ hạnh và hãm mình. Quyết định đó, đã để lại trong tâm khảm của bao người dân Âu Châu niềm cảm mến sâu xa.

Khi lên 14 tuổi, ngài kết hôn với ông Louis ở Thuringia (một quận chúa của Ðức), là người mà ngài rất yêu mến, và có được ba mặt con. Dưới sự linh hướng của các tu sĩ Phanxicô, ngài sống đời cầu nguyện, hy sinh và phục vụ người nghèo cũng như người đau yếu. Không những thế, ngài còn muốn trở nên một người nghèo thực sự qua cách ăn mặc thật đơn sơ. Mỗi ngày, ngài phân phát thực phẩm cho hàng trăm người nghèo trong vùng, mà lúc nào cũng đầy nghẹt trước cửa nhà.

  Sau sáu năm thành hôn, ngài thật đau khổ khi nghe tin chồng tử trận trong cuộc Thập Tự Chinh. Buồn hơn nữa, gia đình nhà chồng lại coi ngài là người hoang phí tiền bạc của hoàng gia, nên đã đối xử với ngài thật thậm tệ, và sau cùng họ đã tống ngài ra khỏi hoàng cung. Nhưng sau cuộc thập tự chinh, những người thân thuộc bên chồng trở về đã phục hồi quyền lợi cho ngài, vì con trai của ngài là người thừa kế chính thức.

Vào năm 1229, ngài gia nhập dòng Ba Phanxicô, và dùng quãng đời còn lại để chăm sóc người nghèo trong một bệnh viện, mà ngài đã thiết lập để vinh danh Thánh Phanxicô. Sức khỏe của ngài ngày càng sa sút, và sau cùng ngài đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày sinh nhật thứ 24, năm 1231. Vì sự nổi tiếng về nhân đức của ngài, nên chỉ bốn năm sau ngài đã được phong Thánh.

Lời Bàn

 

 Thánh Elizabeth hiểu rất rõ bài học của Ðức Kitô, khi Người rửa chân cho các môn đệ trong bữa Tiệc Ly: người Kitô phải là người phục vụ những nhu cầu cần thiết của tha nhân, dù người phục vụ có địa vị cao trọng. Là một người trong hoàng tộc, Thánh Elizabeth đã có thể sai khiến người dân, nhưng ngài đã phục vụ họ với một tâm hồn thật đại lượng, đến nỗi trong cuộc đời ngắn ngủi ấy ngài đã được sự quý mến của rất nhiều người. Thánh Elizabeth còn là gương mẫu cho chúng ta về sự tuân phục vị linh hướng. Thăng tiến đời sống tâm linh là một tiến trình thật khó khăn. Chúng ta rất dễ tương nhượng, nếu không có ai khích lệ hay chia sẻ những kinh nghiệm để giúp chúng ta tránh được các cạm bẫy.

Lời Trích

“Trong thời đại ngày nay, chúng ta có trách nhiệm đặc biệt là trở nên người thân cận đối với mọi người, và tích cực giúp đỡ họ khi chúng ta gặp trên đường đời, dù đó là người già cả bị hắt hủi, người lao công ngoại quốc bị khinh miệt, người tị nạn, trẻ sơ sinh của một mối tình vụng trộm mà bất đắc dĩ em phải chịu đau khổ, hay một người đói ăn; những người ấy đã làm lương tâm chúng ta phải bối rối khi nhớ lời Ðức Kitô: ‘Khi anh em giúp đỡ một người bé mọn này là giúp đỡ chính Thầy’ (Mt. 15:40)” (Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay, 27).
18 Tháng Mười Một
Thánh Rose Philippine Duchesne
(1769-1852)

Sinh ở Grenoble, nước Pháp, trong một gia đình giầu có, Philippine hấp thụ năng khiếu chính trị từ người cha và nơi người mẹ ngài học được sự thương yêu người nghèo. Về tính tình, chính yếu ngài là một người cương quyết với ý chí bất khuất, mà sau này tính khí ấy đã giúp ngài trở nên thánh thiện. Ngài gia nhập tu viện năm 19 tuổi, mà không nói với cha mẹ một lời, và dù gia đình có chống đối, ngài vẫn cương quyết đi tu. Khi cuộc Cách Mạng Pháp bùng nổ, tu viện phải đóng cửa, ngài quay sang chăm sóc người nghèo và người đau yếu, mở lớp dạy các trẻ bụi đời và liều mình giúp đỡ các linh mục đang hoạt động âm thầm.

 Khi tình thế lắng dịu, chính ngài thuê lại tu viện cũ, đã đổ nát vì chiến tranh, cốt để làm sống lại sinh hoạt nhà dòng. Chiến tranh đã tàn phá không chỉ vật chất mà còn ảnh hưởng đến đời sống tâm linh. Nhà dòng chỉ còn lại bốn nữ tu. Sau đó họ gia nhập Tu Hội Thánh Tâm mới được thành lập, mà vị bề trên trẻ tuổi, Thánh Madeleine Sophie Barat, trở nên một người bạn trong suốt cuộc đời của sơ Philippine. Một thời gian ngắn sau đó, sơ Philippine làm bề trên nhà dòng và làm hiệu trưởng một trường học. Nhưng mơ ước của ngài ngay từ khi còn nhỏ, lúc được nghe biết về công cuộc truyền giáo ở Louisiana, là sang Hoa Kỳ phục vụ người da đỏ. Ngài thực hiện tham vọng này khi 49 tuổi.
Cùng với bốn nữ tu, ngài lênh đênh trên biển 11 tuần lễ để đến New Orleans, và sau đó họ phải xuôi giòng Mississippi thêm bảy tuần lễ nữa để đến St. Louis. Ðến nơi, ngài chỉ gặp toàn thất vọng. Ðức giám mục địa phương không có chỗ cho các sơ tá túc để hoạt động cho người thổ dân Hoa Kỳ. Thay vào đó, đức cha lại sai các sơ đến một nơi mà ngài gọi là “làng hẻo lánh nhất Hoa Kỳ,” đó là St. Charles, Missouri. Tuy nhiên, với bản tính dũng cảm, sơ Philippine đã thiết lập trường học miễn phí đầu tiên cho các thiếu nữ ở vùng tả ngạn sông Mississippi.

Nhưng đó là một sai lầm. Mặc dù các ngài làm việc quần quật, như bất cứ người phụ nữ nào trong thời kỳ khẩn hoang phải rong ruổi trên các toa xe ngựa viễn tây, sự đói khát và lạnh giá đã đẩy các ngài ra khỏi vùng, lưu lạc đến Florissant, Missouri, là nơi ngài thiết lập trường Công Giáo Da Ðỏ đầu tiên.

Phải là một nữ anh thư như Mẹ Philippine Duchesne, mới kinh qua được những hành trình khủng khiếp trong thời gian truyền giáo. Louis E. Callan, người tìm hiểu về Mẹ Duchesne đã viết: “Trong thập niên đầu khi Mẹ Duchesne đến Hoa Kỳ, trên thực tế ngài đã phải chịu đựng mọi gian khổ của một người khẩn hoang, ngoại trừ sự đe dọa của người da đỏ – không có chỗ ở, thiếu thốn thực phẩm, nước uống, dầu đốt, tiền bạc, thời tiết thay đổi thất thường, thiếu thốn mọi tiện nghi, và sự ngỗ nghịch của các trẻ em vì sống trong môi trường thô bạo và ít được giáo dục”.

Sau cùng, vào lúc 71 tuổi, với sức khoẻ yếu kém và mệt mỏi, ngài đã hoàn thành ước mơ. Một xứ đạo được thành hình ở Sugar Creek, Kansas, giữa những người thổ dân Potawatomi. Mặc dù ngài không thể học được tiếng bản xứ, nhưng người thổ dân gọi ngài là “Bà Luôn Cầu Nguyện”. Trong khi người khác học hỏi thì ngài cầu nguyện. Người ta kể rằng các trẻ em da đỏ nghịch ngợm, lén ra đằng sau lưng ngài khi đang cầu nguyện để ném lên áo những mẩu giấy, và vài tiếng đồng hồ sau chúng trở lại, các mẩu giấy ấy vẫn còn dính trên áo.
Ngài từ trần năm 1852 lúc 83 tuổi, và được Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong Thánh năm 1988.

Lời Bàn

Ơn Chúa đã trui rèn ý chí sắt đá và sự quyết tâm của Mẹ Duchesne, để trở thành một người khiêm tốn và vị tha, không muốn sự an nhàn của một đấng bề trên. Tuy nhiên, người ta chỉ nên thánh bởi sự trau dồi theo thời gian. Truyện kể rằng, trong một cuộc tranh luận với vị linh mục về sự thay đổi nơi cung thánh, ngài cứng đầu đến nỗi vị linh mục phải đe dọa lấy đi nhà tạm thì ngài mới thôi. Nhưng ngài đã kiên nhẫn chịu đựng sự chỉ trích của các nữ tu trẻ cho rằng ngài thiếu cấp tiến. Qua tất cả các biến cố trong quãng đời 31 năm ấy, ngài có được một tình yêu bất khuất và đã trung thành tuân giữ lời khấn của ngài.

Lời Trích

 “Chúng tôi chỉ làm được những điều rất nhỏ trong cánh đồng truyền giáo cho Ðức Kitô, nhưng chúng tôi yêu quý điều ấy, vì biết rằng Thiên Chúa không đòi hỏi phải thành đạt những công trình lớn lao, nhưng Người muốn một con tim dâng hiến tất cả, không giữ lại chút gì cho mình… Thập giá đích thực là thập giá mà chúng ta không tự chọn cho mình… Người có được Ðức Giêsu là có được tất cả” (Thánh Rose Philippine Duchesne).

Ngày 18 tháng Mười Một – Cung hiến Đền thờ Thánh Phêrô và Phaolô Tông Ðồ

 https://hddmvn.net/ngay-18-thang-muoi-mot-cung-hien-den-tho-thanh-phero-va-phaolo-tong-do/

Vua Constantin Cả (270-337) đã chiến thắng quân Maxence dưới tường thành Rôma năm 312, nhờ sự xuất hiện lạ lùng của cây Thánh Giá lơ lửng giữa không trung với hàng chữ: “In hoc signo vince” (Tin vào dấu này, ông sẽ thắng). Năm 313, ngài đã ban hành chiếu chỉ (Edit de Milan) chấm dứt cuộc bách hại người Công Giáo và cho tự do tôn giáo. Sau đó, năm 323, nhà vua mới thật sự trở lại Công giáo. Ðể tỏ lòng biết ơn về chiến thắng Maxence, ngài đã xây cất nhiều đại thánh đường nguy nga, trong số đó phải kể vương cung thánh đường Thánh Phêrô và Thánh Phaolô.

Ðền thờ Thánh Phêrô

Ðền thờ Thánh Phêrô được xây cất năm 326 và được nới rộng ra năm 1506 với sự cộng tác đắc lực của nhiều kỹ sư và nghệ sĩ có tiếng: Rosellinô. Bramante, Raphael, Michel Ange, Carlô Modernô và Silvestrê. Riêng cái tháp cao 138m, rộng 42m. Thánh Silvestrê và Ðức Giáo Hoàng Urbanô VIII đã thánh hiến ngày 18/11/1626.

Ðền thờ Thánh Phaolô

Ðền thờ Thánh Phaolô được xây cất trên đường Ostie, bên “ngoài thành” Vatican, và được thánh hiến cũng cùng một ngày với đền thánh Phêrô. Năm 1823, một cuộc hỏa tai đã thiêu hủy gần hết và Ðức Grêgoriô XVI và Ðức Piô IX đã chọn ngày định tín “Ðức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội” để thánh hiến lại, với sự chứng kiến đông đảo của các Giám mục.

(Theo tinmung.net)

19 Tháng Mười Một
Thánh Agnes ở Assisi
(1197-1253)

 Thánh Agnes là em ruột và là người đầu tiên theo Thánh Clara. Sau khi Clara bỏ nhà đi tu thì hai tuần sau, Agnes cũng bỏ nhà đi theo chị mình. Gia đình các ngài tìm cách ép buộc đưa Agnes về. Họ cố lôi ngài ra khỏi tu viện, nhưng thật lạ lùng thân thể của ngài bỗng dưng nặng chĩu khiến vài người đàn ông cũng không thể nhấc nổi. Người chú của ngài là Monaldo định đánh ngài nhưng bỗng dưng ông bị tê liệt. Sau đó họ phải để cho các ngài yên.

Agnes không thua gì người chị của mình trong việc cầu nguyện và hy sinh hãm mình trong thời gian ở San Damiano. Năm 1221, một nhóm nữ tu dòng Biển Ðức ở Monticelli (gần Florence), xin được trở thành các nữ tu Clara Nghèo Hèn. Thánh Phanxicô gửi Agnes đến làm tu viện trưởng của tu viện này. Sau khi thiết lập các tu viện Clara Nghèo Hèn ở vùng bắc nước Ý, Agnes được gọi về San Damiano năm 1253, khi Clara sắp sửa từ trần.

Ba tháng sau khi Clara từ trần, Agnes cũng đi theo chị mình.

Thánh Agnes được phong thánh năm 1753.

Lời Bàn

Thiên Chúa chắc hẳn phải ưa thích cảnh trớ trêu, vì thế giới đầy dẫy những điều ngược đời. Vào năm 1212, ở Assisi chắc hẳn nhiều người nghĩ rằng Thánh Clara và Agnes đã uổng phí cuộc đời khi các ngài quay lưng lại thế gian. Trên thực tế, cuộc đời của các ngài thực sự đã đem lại sức sống dồi dào, và thế giới được phong phú hơn nhờ gương mẫu của các vị tu sĩ nghèo hèn ấy.

Lời Trích

Charles de Foucald, sáng lập tu hội Tiểu Ðệ và Tiểu Muội của Chúa Giêsu, có viết: “Người ta phải trải qua sự cô độc và thực sự sống ở đó để nhận được ơn sủng của Thiên Chúa. Chính ở đó mà họ từ bỏ tất cả, gạt bỏ tất cả những gì không thuộc về Thiên Chúa, có như thế họ mới dọn được căn nhà linh hồn chỉ để một mình Chúa ngự. Khi làm như vậy, đừng sợ phản bội loài người. Ngược lại, đó là phương cách duy nhất mà bạn có thể phục vụ họ cách hữu hiệu” (Raphaen Brown, Franciscan Mystic, t. 126).

Ngày 19.11: Chân phước Victoria Rasôamanarivô

Victoria Rasôamanarivô là người đầu tiên của Mađagasca được tôn phong chân phước. Victoria sinh năm 1848, là công chúa của một hoàng tộc thuộc dòng Hôvas. Victoria Rasôamanarivô được học hành và ngài theo tín ngưỡng thờ ngẫu thần của dòng tộc.

Sau đó, các nữ tu dòng thánh Giuse đến truyền giáo tại Mađagasca, và Victoria được nhận vào trường học dành cho các nữ sinh của họ. Victoria bị ấn tượng bởi niềm tin và lối sống của các nữ tu, và ngài đã xin họ dạy cho biết đức tin Công giáo. Năm lên 15 tuổi, Victoria xin được chịu phép Thanh tẩy. Cậu của Victoria, là người có trách nhiệm đối với ngài, đã không chấp nhận thứ tôn giáo Victoria mới theo và ông đã gắng sức làm cho ngài phải từ bỏ. Tuy nhiên, Victoria vẫn kiên định trong niềm tin của mình và thậm chí còn muốn tham gia với các nữ tu tận hiến mình cho Thiên Chúa trong bậc sống tu trì. Thế nhưng, các nữ tu lại nghĩ rằng sẽ tốt hơn nếu để Victoria ở lại sống đời Kitô hữu giữa thế gian và với gia đình của ngài. Họ biết chắc sẽ làm cho ông cậu đầy uy quyền của Victoria tức giận nếu chấp nhận cho Victoria đi tu.

 Người ta đã xếp đặt một cuộc hôn nhân cho Victoria mà chính Victoria không bằng lòng, nhưng họ lại cho phép Victoria được mời một linh mục Công giáo tham dự nghi lễ cưới. Người chồng mà người ta chọn cho Victoria lại là một anh chàng nghiện rượu và có lối sống gây nhiều gương xấu. Ông cậu của Victoria và hoàng hậu đã cố gắng thuyết phục Victoria ly dị anh ta. Nhưng Victoria không muốn gây gương xấu cho các Kitô hữu khác. Với tư cách là công chúa, Victoria có thể, bằng đời sống của mình, dạy cho người khác cách thức tuân giữ lề luật của Thiên Chúa, nhất là giới luật hôn nhân gia đình. Victoria vẫn sống với cương vị là một người vợ trung thành, cầu nguyện cho chồng và dâng những đau khổ để người chồng được ơn hoán cải. Trước lúc người chồng qua đời năm 1887, Victoria đã thuyết phục được chồng lãnh nhận bí tích Thanh tẩy.

Victoria Rasôamanarivô sống thêm bảy năm nữa và đã là một quả phụ sống đạo mẫu mực. Đời sống đức hạnh của Victoria đã khiến cho nhiều quan chức trong giai cấp thống trị cũng như những dân thường trong bộ tộc phải ngưỡng mộ và kính trọng. Qua đời sống thánh thiện, Victoria là một nhà tài trợ về niềm tin Công giáo ở Mađagasca. Victoria trung thành cầu nguyện nhiều giờ mỗi ngày cũng như giúp đỡ những người nghèo khổ, những người bị cầm tù và những người phong hủi. Victoria về trời ngày 21 tháng Tám năm 1894, lúc được 46 tuổi. Đức thánh cha Gioan Phaolô II đã tôn phong Victoria Rasôamanarivô lên bậc chân phước ngày 30 tháng Tư năm 1989, nhân chuyến viếng thăm Mađagasca.

 Chân phước Victoria Rasôamanarivô đã sống chân thành với đức tin Công giáo ngay cả khi phải chịu những khó khăn thử thách. Đức tin chính là nguồn an ủi và là nguồn sức mạnh của chúng ta. Nhưng chúng ta có sẵn sàng tiếp nhận những thách đố xảy đến để minh chứng đức tin của mình không?