Hạnh Các Thánh từ ngày 20.11.2022 đến 26.11.2022

Ngày đăng: 11:54 PM - 18/11/2022

Ngày 20.11: Thánh Edmund

Thánh Edmund là một vị quân vương người Anh sống vào thế kỷ thứ 9. Thánh nhân lên ngôi vua khi chỉ mới 14 tuổi. Tuy vậy, địa vị cao cả đã không làm cho Edmund tự hào hay tự phụ gì. Thay vào đó, Edmund luôn bắt chước tấm gương của thánh vương Đavít. Thực ra, Edmund thậm chí đã học thuộc lòng các bài thánh vịnh của vua Đavít. Các thánh vịnh được viết trong Kinh Thánh là những bài ca trác tuyệt dùng để chúc tụng Thiên Chúa.

Vua Edmund cai trị đất nước cách rất khôn ngoan, biểu lộ tấm lòng nhân hậu qua tất cả những công việc ngài làm. Khi quân mandi Đan Mạch xâm chiếm vương quốc của Edmund, thánh nhân đã chống lại họ cách anh dũng. Đội quân của kẻ thù mạnh hơn rất nhiều lần so với đội quân của Edmund. Và rồi, vua Anh bị bắt giữ. Lãnh đạo quân mandi hứa sẽ tha chết cho Edmund nếu Edmund đồng ý chấp thuận một số điều luật của ông ấy. Tuy nhiên, vì những đạo luật này đi ngược lại với quốc gia và tôn giáo của Edmund, nên nhà vua đã từ chối. Edmund tuyên bố sẽ không cứu lấy thân mình nếu xúc phạm đến Thiên Chúa và thần dân. Tức giận, lãnh đạo quân mandi đã ra án tử cho Edmund.

 Thánh Edmund bị trói vào một gốc cây và bị đánh đòn cách tàn bạo. Thánh vương đã nhẫn nại chịu đựng mọi sự, miệng kêu tên cực trọng Giêsu để xin Người ban thêm sức mạnh. Tiếp đến, những kẻ hành hạ thánh nhân đã bắn các mũi tên vào khắp các phần thân thể ngài. Họ đã cẩn thận không bắn trúng các cơ phận trọng yếu của Edmund để cho thánh nhân phải đau khổ lâu hơn. Sau cùng, thánh Edmund bị trảm quyết. Ngài qua đời năm 870.

Việc tôn kính thánh vương Edmund như vị thánh tử đạo rất phổ biến tại Anh quốc. Nhiều thánh đường đã được xây cất để tôn kính ngài.

 Chúng ta hãy cầu nguyện xin thánh Edmund ban cho chúng ta lòng trung thành với Thiên Chúa và với tổ quốc. Chúng ta cũng có thể bắt chước gương sáng của thánh Edmund bằng cách năng đọc, cầu nguyện và suy gẫm các thánh vịnh trong Kinh Thánh.

20 Tháng Mười Một

Thánh Bernward

(c. 960 – 1022)

Thánh Bernward sinh trong một gia đình thuộc sắc tộc Saxon, và được người chú là Ðức Giám Mục Volkmar của Utretch nuôi dưỡng khi ngài mồ côi cha mẹ từ nhỏ.
Ngài theo học trường địa phận ở Heidelburg và ở Mainz, là nơi ngài được thụ phong linh mục năm 987. Sau đó ngài làm tuyên uý cho hoàng tộc và là thầy giáo tư cho các con của hoàng đế Otto III.
Năm 993 ngài được chọn làm giám mục của Hildesheim, và đã xây dựng một tu viện và nhà thờ Thánh Micae ở đây. Ngài đặc biệt yêu chuộng kiến trúc, nghệ thuật và đã hoàn thành một vài tác phẩm đáng kể. Trong nhiều năm, ngài bất đồng ý kiến với Ðức Tổng Giám Mục Willigis của Mainz về các quyền giám mục đối với tu viện Gandersheim, nhưng sau đó Rôma đã tán thành ý kiến của ngài.
Trong những năm cuối đời, ngài là một tu sĩ dòng Biển Ðức và từ trần ngày 20 tháng 11. Ngài được phong thánh năm 1193.

 https://hddmvn.net/20-thang-muoi-mot-thanh-bernward/

http://hddmvn.net/tusach/tusach/hanhcacthanh/theovetchannguoi.htm

Ngày 21 tháng Mười Một – Đức Mẹ Dâng Mình Vào Đền Thánh

 https://hddmvn.net/ngay-21-thang-muoi-mot-duc-me-dang-minh-vao-den-thanh/

Nói về lễ Đức Mẹ dâng mình vào đền thánh, đức giáo hoàng Phaolô VI viết : “Những lễ dựa trên lời truyền khẩu, nhưng có giá trị gương mẫu cao và đươc Giáo hội Đông phương đặc biệt mừng kính từ xa xưa, đó là lễ Đức Maria dâng mình và0 đền thánh”

Việc Đức Mẹ dâng mình và đền thánh dựa trên sự kiện này, là luật cũ đã nhận các trinh nữ tự hiến mình cho Thiên Chúa tại đền thành. Hơn nữa Đức Trinh nữ còn được đặc ân Vô nhiễm Nguyên tội ngay từ buổi đầu thai. Sư trinh trong này có thể dẫn tới hiệu quả là trí khôn Đức Maria đã phát triển sớm hơn bình thường, vì không bị ảnh hưởng bởi tội nguyên tổ. Bởi đó, người ta cho rằng, Mẹ đã dâng mình cho Chúa rất sớm, ngay khi trí khôn ngài có khả năng hiểu biết.

 Cuốn ngụy thư “Phúc âm về cuộc sinh hạ của Đức Maria” còn cho rằng ngài đã thực hiện cuộc dâng hiến này khi mới ba tuổi. Giottô trong một bức họa đã diễn tả Đức Maria trong những bước chân mạnh mẽ tiến vào đền thánh.

Trong niềm tin này, người Hy lạp, Armênia và Latinh, đều mừng lễ Đức Mẹ dâng mình trong đền thánh vào ngày 21 tháng 11 hàng năm. Simon Métaphrate cho rằng lễ mừng đã được thiết lập vào năm 730 ở Constantinople. Năm 1143, hoàng đế Emmanuelđã xếp vào số các lễ được Giáo hội khắp nơi biết đến.

Vị đại sứ của vua Chypre bên đức giáo hoàng Grêgoriô XI (ở Avignon) đã thuyết phục, để giáo triều với đức Sixtô IV chấp nhận lễ này từ năm 1372. Kể từ đó, ở nhiều vương quốc và nhiều nhà thờ đã mừng long trọng theo sách nguyện Rôma. Đức giáo hoàng Pio V bãi bỏ và được đức Sixtô V tái lập.

Nhiều nhà dòng đã chọn lễ này làm ngày khấn dòng hay lặp lại lời khấn cho các tu sĩ. Cùng với Đức Maria, chúng ta cũng dâng mình cho Chúa một cách mau mắn và quảng đại.

+ Ghi nhớ

Noi gương Đức Mẹ, tôi dâng mình hằng ngày cho Chúa, hiến trọn đời sống tôi để làm theo ý Chúa, chăm chỉ lắng nghe và làm theo Lời Chúa dạy suốt đời.

+ Lời nguyện

Lạy Chúa, ngày hôm nay chúng con hợp mừng Đức Trinh Nữ Maria vinh hiển.

Cúi xin Chúa nhận lời Người chuyển cầu, mà ban cho chúng con được dư đầy ơn phúc.

Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen.

 

22 Tháng Mười Một
Thánh Cecilia
(Thế kỷ III)
 Mặc dù Thánh Cecilia là vị tử đạo thời danh trong Giáo Hội Rôma, những câu chuyện quen thuộc về thánh nữ thì không thấy ghi chép trong văn bản chính thức. Vào thời tiên khởi cũng không thấy dấu vết của sự tôn kính ngài. Chỉ có một mảnh đá thời thế kỷ thứ tư, có ghi khắc tên của một nhà thờ mang tên thánh nữ, và ngày lễ kính được cử hành vào khoảng năm 545.
 Theo truyền thuyết, Cecilia là một thiếu nữ Kitô Giáo của giai cấp quyền quý kết hôn với một người La Mã tên là Valerian. Cecilia mặc áo nhặm, ăn chay, và thường cầu khẩn các thánh, các thiên thần, các trinh nữ xin họ gìn giữ sự trinh tiết của ngài. Và thánh nữ nói với đức lang quân, “Em sẽ tiết lộ cho anh một sự thật, nhưng anh phải hứa đừng nói với ai”. Và khi ông hứa, ngài nói: “Có một thiên thần luôn trông chừng em, và gìn giữ em khỏi bị ai đụng chạm đến”. Ông nói, “Em yêu dấu, nếu đó là sự thật, hãy cho anh thấy vị thiên thần ấy”, và ngài trả lời, “Anh chỉ có thể thấy nếu anh tin vào Thiên Chúa, và được rửa tội”.
 Ngài gửi đức lang quân đến gặp Thánh Giáo Hoàng Urbanô để được rửa tội; và khi ông trở về nhà, ông thấy Cecilia đang cầu nguyện trong phòng, và cạnh đó là một thiên thần với đôi cánh rực lửa, tay cầm hai triều thiên bằng hoa hồng và hoa huệ đặt trên đầu của hai người, và biến đi. Sau đó, Tibertius, người em của Valerian, bước vào phòng và ông ngạc nhiên khi ngửi thấy mùi hoa nồng nàn cũng như vẻ mỹ miều của các bông hoa.

Khi ông này được kể cho biết các chi tiết của câu chuyện, ông cũng muốn được rửa tội. Sau đó, cả hai anh em ông tận tụy hy sinh chôn cất các vị tử đạo mà thời ấy xảy ra hàng ngày, dưới quyền tổng trấn Turcius Almachius. [Không có tổng trấn nào mang tên này cả]. Họ bị bắt và bị đưa ra trước quan tổng trấn, và khi họ từ chối thờ cúng các tà thần họ đã bị chém đầu.

Trong khi đó, Thánh Cecilia, qua lời rao giảng ngài đã đưa bốn trăm người trở lại đạo và được Ðức Giáo Hoàng Urbanô rửa tội. Sau đó thánh nữ bị bắt, và bị xử tử bằng cách trấn nước cho đến chết. Ngài bị dìm trong bồn nước một ngày một đêm, sau đó quan cho nổi lửa đun sôi bồn nước, nhưng thánh nữ không hề hấn gì. Khi tổng trấn Almachius nghe biết điều này, ông sai người đến chặt đầu thánh nữ ngay trong bồn nước. Lý hình chém đến ba lần mà đầu thánh nữ vẫn chưa đứt. Hắn để mặc cho máu tuôn đổ. Ðám đông đổ xô đến để thấm máu trong khi ngài vẫn rao giảng cho họ. Ba ngày sau, ngài trút hơi thở cuối cùng, và được Ðức Giáo Hoàng Urbanô và các phó tế chôn cất.

Vào thời Phục Hưng, người ta thường vẽ ngài với đàn vĩ cầm và phong cầm nhỏ.

Lời Bàn

Như bất cứ Kitô hữu tốt lành nào khác, Thánh Cecilia dùng miệng lưỡi để ca ngợi Thiên Chúa với tất cả tấm lòng. Ngài tiêu biểu cho sự tin tưởng của Giáo Hội rằng thánh nhạc là một phần căn bản trong phụng vụ, có giá trị lớn lao hơn bất cứ nghệ thuật nào khác. Trong thời đại hỗn độn của âm nhạc ngày nay, có lẽ chúng ta cần đọc lại những lời của Công Ðồng Vatican II dưới đây.

 Lời Trích

 “Hành động phụng vụ thêm cao quý khi các nghi thức thánh được âm nhạc trang trọng hóa, với sự phụ giúp của các thừa tác viên chức thánh và sự tham dự của giáo đoàn… Phải luôn luôn khuyến khích các ca đoàn, nhưng các giám mục và cha sở phải để ý rằng, bất cứ lúc nào phụng vụ được cử hành với thánh nhạc, toàn thể giáo đoàn phải có thể góp phần tham dự cách tích cực vì đó là quyền lợi của họ… Bình ca phải có vị trí xứng đáng trong các nghi lễ, so với các loại nhạc khác. Nhưng điều đó không có nghĩa gạt bỏ các loại thánh nhạc khác, nhất là loại đa âm điệu… Thánh ca dành cho giáo dân phải khéo léo chọn lựa, để trong việc phụng tự và nghi lễ, họ có thể cùng góp tiếng hát” (Sắc Lệnh Về Phụng Vụ, 112-118).

 https://hddmvn.net/22-thang-muoi-mot-thanh-cecilia-the-ky-iii/

http://hddmvn.net/tusach/tusach/hanhcacthanh/theovetchannguoi.htm

 23 Tháng Mười Một

Thánh Giáo Hoàng Clement I
(c. 101)
 Ðức Clement của giáo phận Rôma là người thứ ba kế vị Thánh Phêrô, và cai quản Giáo Hội trong thập niên cuối cùng của thế kỷ thứ nhất. Lịch sử cho chúng ta biết ngài tử đạo năm 101. Tuy nhiên, chi tiết về sự tử đạo của ngài đều là truyền thuyết, được góp nhặt trong khoảng thế kỷ thứ tư hay thứ năm.

Có lẽ Ðền Thánh Clement ở Rôma, là một trong những giáo đường đầu tiên ở thành phố này, được xây trên khu đất xưa là nơi cư ngụ của Thánh Clement. Thư đầu tiên của Thánh Clement gửi cho giáo đoàn Côrintô được giữ gìn cẩn thận, và bức thư này được phổ biến rộng rãi trong thời tiên khởi.

Ðó là lá thư của Giáo Hội Rôma, tác giả là Ðức Clement, gửi cho Giáo Hội ở Côrintô về sự chia rẽ đã làm tách biệt giáo dân với giáo sĩ. Ðức Clement phàn nàn về sự chia rẽ trái phép và vô lý ấy trong Giáo Hội Côrintô, và ngài khuyên hãy đoàn kết lại. Ngài coi lý do của sự tranh chấp ấy là vì “đố kỵ và ganh ghét”.

Lời Bàn

Ðức Clement đã chủ trương dùng đức ái để hàn gắn chia cắt trong Giáo Hội Côrintô, vì “nếu không có đức ái, không có gì làm hài lòng Thiên Chúa”. Sau Công Ðồng Vatican II, toàn thể Giáo Hội cảm nhận được sự tách biệt giữa mới và cũ. Cầu mong sao mọi Kitô hữu ngày nay hãy nhớ đến sự cổ vũ của Thánh Clement mà thể hiện lời Thánh Phaolô: “Và trên tất cả những điều ấy hãy có đức yêu thương, đó là giây ràng buộc mọi điều toàn thiện” (Colossê 3:14).

Lời Trích

“Ðức ái kết hợp chúng ta với Thiên Chúa. Trong đức ái không có gì là xấu hổ, không có gì là ngạo mạn. Ðức ái không đi với ly giáo, không nổi loạn, nhưng hài hòa mọi sự. Trong đức ái, những người được Thiên Chúa tuyển chọn sẽ trở nên tuyệt hảo” (Thư Thứ Nhất Gửi Giáo Ðoàn Corinto).

http://hddmvn.net/tusach/tusach/hanhcacthanh/theovetchannguoi.htm

 https://hddmvn.net/23-thang-muoi-mot-thanh-giao-hoang-clement-i/

Ngày 23.11: Chân phước Miguel Augustinô Prô

Chân phước Miguel Augustinô Prô sinh năm 1891 tại Guađalup, Mêxicô. Ngài là vị tử đạo của thế kỷ thứ 20. Cuộc bách hại Giáo hội của chính phủ Mêxicô bắt đầu vào năm 1910. Miguel gia nhập tập viện dòng Tên năm 1911. Lúc ấy, Miguel được 21 tuổi, rất can đảm, rất quảng đại và rất năng động. Vào năm 1914, cuộc cách mạng bắt đầu dâng cao. Các tập viện của dòng Tên đều bị trục xuất ra khỏi lãnh thổ của Mêxicô. Và các tập sinh được gởi qua các chủng viện ngoại quốc để được đào tạo. Miguel Augustinô Prô hoàn thành chương trình học làm linh mục ở Bỉ; và ngài được thụ phong năm 1926.

 Sức khỏe của vị linh mục trẻ này rất yếu kém, nhất là Prô thường xuyên bị đau dạ dày. Cuộc trở về Mêxicô một mặt là niềm vui đối với cha Prô, nhưng mặt khác lại là nỗi buồn. Ngài thấy cảnh dân chúng bị chính quyền áp bức mà lẽ ra họ phải được phục vụ. Cha Prô nhận thấy ngài có thể đem đến cho họ niềm an ủi tinh thần. Ngài có thể mang lại cho họ ơn tha thứ của Thiên Chúa qua bí tích Hòa giải. Ngài có thể đem lại cho họ sức mạnh nhờ Thánh Thể Chúa Giêsu. Và, như tất cả các linh mục ở Mêxicô lúc ấy, cha Prô cũng bị cảnh sát mật truy bắt. Vì thế, cha phải tự ngụy trang. Lúc thì cha ở nhà này, khi thì cha ở nhà kia. Cha Prô luôn luôn ở trong tình trạng suýt bị bắt. Rồi cha lại thoát khỏi sự săn lùng của họ!

Cha Prô thi hành công việc mục vụ của mình cách anh dũng cho tới ngày 23 tháng Mười Một năm 1927. Sau đó, cha bị bắt và không được đem ra xét xử, bị lên án vì là linh mục Công giáo. Khi đối diện với đội xử bắn, cha Prô đã giang tay ra cho tới lúc toàn thân của ngài là một cây thánh giá sống động. Sau đó, cha kêu lên một tiếng lớn: “Viva Cristo Rey!” (Vạn tuế Vua Kitô!)

Tổng thống Calles đã ra lệnh cấm người ta tổ chức đám tang công khai. Ông đe dọa sẽ trừng phạt bất cứ ai tới tham dự. Tuy vậy, dân chúng đã tràn ra ngập các ngả đường nơi thi hài của vị linh mục bị giết chết được rước qua. Họ đứng yên và thinh lặng cầu nguyện, cảm tạ Thiên Chúa về đời sống và gương chứng nhân của cha Miguel Prô. Cha Miguel Augustinô Prô được đức thánh cha Gioan Phaolô II tôn phong chân phước ngày 25 tháng Chín năm 1988.

 Chân phước Miguel Augustinô Prô đã sống vào thời các tín hữu bị bách hại ở Mêxicô; và lúc ấy cha đã chọn sống theo ơn gọi tu trì. Chúng ta hãy nài xin chân phước Miguel Augustinô Prô ban cho chúng ta ơn yêu mến đức tin Công giáo cách tha thiết như ngài.

 Hôm nay Giáo hội cũng cử hành thánh lễ tôn kính hai thánh Clêmentê I và Côlumban.

24 Tháng Mười Một Thánh Anrê Dũng Lạc và Các Bạn

Châm ngôn các thánh Tử Đạo Việt Nam

 
Thánh Anrê Dũng Lạc là một trong 117 vị tử đạo ở Việt Nam, trong những năm từ 1820 đến 1862. Các ngài được phong Chân phước làm bốn đợt, từ 1900 đến 1951. Sau cùng, các ngài được Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong Thánh vào năm 1988.
Kitô Giáo được người Bồ Ðào Nha đưa vào Việt Nam qua ba triều đại. Vào năm 1615, các linh mục dòng Tên mở khu hội truyền giáo đầu tiên ở Ðà Nẵng. Ở đây, các cha coi sóc các người Công Giáo Nhật Bản bị tống ra khỏi nước.
 Vua chúa thời ấy cấm các nhà truyền giáo ngoại quốc không được du nhập vào Việt Nam, và họ dụ dỗ người Việt chối đạo bằng cách bước qua thập giá. Giống như thời kỳ cấm đạo ở bên Anh, các linh mục ở Việt Nam cũng phải trốn tránh trong nhà của giáo dân.
Có đến ba lần bắt đạo cực kỳ khủng khiếp trong thế kỷ 19. Kể từ năm 1820, trong sáu thập niên, có khoảng 100.000 đến 300.000 người Công Giáo đã bị giết hoặc bị đầy ải. Trong đợt bách hại đầu tiên, các nhà truyền giáo ngoại quốc gồm các linh mục của Tu Hội Thừa Sai Ba Lê, cũng như các linh mục Ða Minh người Tây Ban Nha và các Đoàn viên Dòng Ba Đa Minh (Huynh Đoàn Giáo Dân Đa Minh).
 Vào năm 1847, xảy ra cuộc bách hại lần thứ hai, khi nhà vua nghi ngờ các vị thừa sai và giáo dân Việt Nam đồng loã với lực lượng phản loạn để giết các con trai của vua.
Các vị tử đạo sau cùng là 17 giáo dân, trong đó có một em 9 tuổi, được tử đạo năm 1862. Chính năm đó một hiệp ước được Việt Nam ký kết với Pháp, nhằm đảm bảo sự tự do tôn giáo cho người dân, nhưng hiệp ước đó không được tôn trọng.

Lời Bàn

Lịch sử tử đạo của dân tộc Việt, giúp cho những ai chỉ biết đến Việt Nam qua cuộc chiến giữa tự do và cộng sản thấy rằng, ngay tự xa xưa, thập giá đã là một phần của đời sống người Việt. Trong khi lý do của sự can thiệp hoặc bỏ rơi của Hoa Kỳ vào vấn đề Việt Nam chưa được giải đáp thỏa đáng, thì chính đức tin Kitô Giáo từng ăn sâu vào lòng đất Việt đã chứng tỏ sự can trường hơn bất cứ sức lực nào muốn tiêu diệt đức tin ấy.

Lời Trích

“Giáo Hội Việt Nam thì sống động và đầy sinh lực, với nhiều giám mục trung tín và hăng hái, và nhiều giáo dân tận tụy và can đảm. Giáo Hội Việt Nam đang sống phúc âm trong một hoàn cảnh khó khăn và phức tạp với một sức mạnh đáng kể” (Nhận định của ba vị tổng giám mục Hoa Kỳ sau chuyến thăm viếng Việt Nam vào tháng Giêng 1989).

 http://hddmvn.net/tusach/tusach/hanhcacthanh/theovetchannguoi.htm

24 Tháng Mười Một thánh Phêrô Borie Cao (1808 – 1838)

Ðức Cha Phêrô Cao (Pierre Rose Dumoulin Borie), Sinh năm 1808 tại Beynat, Tulle, Pháp, Giám mục Hội Thừa Sai Paris, địa phận Tây Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 24/11/1838 tại Ðồng Hới dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII và được phong thánh vào năm 1988 do Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, lễ kính vào ngày 24/11.

Giám mục Botie Cao chưa làm Giám mục đến một ngày, nhưng ngài xứng đáng với tước hiệu đó. Căn cứ vào khả năng và nhiệt tình. Đức cha Havard Du đã chọn ngài làm Giám mục phó có quyền kế vị. Cha Cao nhận được giấy quyết định của Tòa Thánh đang khi ở trong tù, và vì thế chưa kịp thụ phong. Tên thường gọi của ngài là Dumoulin do bạn bè đặt (tiếng Pháp Dumoulin là máy xay lúa). Thế nhưng danh xưng Dumoulin đã đi vào lịch sử với hai tước hiệu vinh quang : Giám mục và tử đạo. Quả thật đối với Chúa, giá trị con người là nhân đức và thiện chí, dù thuộc giai cấp nào, mọi người đều được kêu gọi nên thánh.

 Phêrô Borie sinh ngày 20.02.1808, tại Beynat miền Correze, thân phụ tên là Guillaume Borie, thân mẫu là Rose Borie. Thế nhưng vì song thân làm nghề xay lúa, bạn bè hàng xóm quen gọi cậu là Dumoulin. Sinh trưởng trong một gia đình tầm thường như vậy, nên thuở bé Dumoulin có tính cẩu thả. Cha mẹ ép cậu vào chủng viện, cậu nghe theo nhưng chẳng hứng thú gì, và vi phạm kỷ luật liên tục. Cha giám đốc phải sử dụng nhiều hình thức xử phạt cũng chẳng làm cậu khá hơn được. Tuy vậy, Thiên Chúa đã can thiệp vào cuộc đời con người Ngài tuyển chọn.

Bất ngờ Borie bị một cơn sốt trầm trọng. Trên giường bệnh, cậu có cơ hội suy tư về đời mình. Một hôm đang khi đọc cuốn niên giám của trường Thừa Sai ghi lại cuộc đời các vị truyền giáo, cậu thấy một tia sáng chói lòa trong tâm hồn. Thế là như thánh Phaolô trên đường Damas xưa, cuộc đời cậu Borie từ nay chỉ lấy Đức Giêsu làm lẽ sống, từ đó cậu siêng năng đến gặp Chúa trong Thánh Thể. Và trong những giờ gặp gỡ ấy, cậu nghe như Ngài kêu gọi cậu lãnh nhận một sứ mạng cao quý hơn: Sứ mạng truyền giáo.

Trong những giây phút nguyện cầu linh thiêng ấy, Borie như thấy Chúa nói với mình về vùng Viễn Đông xa xăm, về những người ở đây còn chưa biết Chúa, về những thừa sai đã đến đó rao giảng Tin Mừng và hỏi cậu có yêu Ngài đủ để ra đi như thế không. Câu trả lời của Borie đã được chính cậu ghi lại trong một buổi tận hiến cho Đức Maria :

“Lạy Mẹ của con ! Xin hãy tin nơi con, khi con trưởng thành, con sẽ hiến toàn thân con cho việc cảm hóa những người chưa tin. Xin Mẹ giúp con đi theo con đường và tinh thần của ơn kêu gọi đó. Xin cho con được đau khổ vì danh Đức Kitô, được đón nhận ngành lá tử đạo và đến bến vinh quang”.

Đức Mẹ như đã nhận lời cậu. Càng ngày Borie càng cương quyết hơn với giấc mơ truyền giáo. Để giấc mơ có thể thành hiện thực, cậu xin chuyển qua chủng viện Hội Thừa Sai Paris. Tại đây cậu kiên trì học tập, lãnh chức phó tế năm 1829, rồi năm sau thụ phong linh mục (21.11.1830). Ngày 01.12.1830, vị tân linh mục bắt đầu xuống tàu khởi hành đến Viền Đông. Thế nhưng vì bão tố phải dừng lại ở Macao khá lâu, ngày 15.5.1832, cha Borie mới tới được Việt Nam.

Nửa năm sau, ngày 06.1.1833, vua Minh Mạng ra chiếu chỉ cấm đạo trên toàn quốc. Các thừa sai bị lùng bắt gắt gao, lên phải di chuyển liên tục, nay nhà này, mai nhà khác. Ngày 24.03, cha Borie kể trong thư là “Tôi đã phải đổi chỗ ở đến 17 lần”. Nhưng năm sau, mỗi năm cha đổi chỗ khoảng hai đến sáu lần nữa. Nét đặc biệt của cha Dumoulin là hòa mình rất nhanh với phong tục địa phương. Ngày đầu tiên, cha đã có thể ăn nước mắn cách ngon lành (điều này rất khó với người Châu Âu), cha học tiếng Việt cách dễ dàng và phát âm khá chính xác. Nhờ bản tính bình dân vui tươi và hoạt bát, cha nhanh chóng lấy được cảm tình của các tín hữu và với cả lương dân nữa.

Năm 1836, khi đọc những điều vu cáo trong chiếu chỉ của vua Minh Mạng, cha Borie Cao định viết một lá thư điều trần, nhưng các thừa sai cản lại, vì nói là vô ích thôi. Năm 1838, sau khi giết thừa sai Jaccard Phan, vua Minh Mạng vẫn chưa thỏa mãn. Ông cho lệnh tiếp tục truy tầm cha Candalh Kim, Giám đốc chủng viện Di Loan. Ngày 02.7, khi quan quân bắt linh mục Khoa thì bắt được hai thày giảng Đức và Khang. Thày Khang lúc bị tra tấn quá đau, đã khai rằng có một thừa sai Châu Âu ở Bố Chính, thủ phủ của Nghệ An. Người bị tiết lộ tung tích đó là cha Cao, không phải là cha Candalh. Dựa vào lời thày Khang, quân lính bủa vây khắp vùng Bố Chính, bắt bớ nhiều tín hữu rồi đe dọa, tra tấn và dụ dỗ, để tìm cho ra chỗ ẩn của vị linh mục.

Giai đoạn này cha Cao không thể ở nhà nào được đến vài giờ, luôn luôn ngài phải di động. Các tín hữu có người muốn cho trú, nhưng lại sợ người khác khi bị đánh đập, sẽ tố cáo họ. Cuối cùng ngày 13.7, cha Cao đành xuống một thuyền nhỏ chèo ra khơi, chờ mong cuộc lùng bắt lắng dịu. Nhưng trời bỗng nổi cơn giông bão, dồn ghe của cha tấp vào bờ. Cha nghĩ rằng đây là dấu Chúa muốn mình ở lại, cha bỏ ghe trở lên đất liền, và ẩn núp dười một hố sâu có cây cối tre phía trên.

“Các anh đi tìm ai ?”

Một thiếu nữ 16 tuổi bị bắt và bị tra khảo. Dù biết chỗ cha ẩn trốn, cô cắn răng chịu đựng, không tiết lộ điều mình biết. Nhưng bố cô không dằn lòng được khi thấy con mình bị đánh đập, đã chỉ chỗ cho lính đến chỗ nơi ẩn trốn của ngài. Dầu đang giữa đêm, quân lính cũng kéo nhau rất đông đi bắt vị thừa sai. Cha Cao nghe rất rõ tiếng chân của đám lính, biết rằng không thể thoát được nữa, cha liền lao lên và hỏi : “Các anh đi tìm ai ?”. Tất cả đám lính đều ngỡ ngàng trông thấy một bóng đen to lớn từ dưới đất chui lên, họ cứ tưởng là ma, nên hoảng sợ không dám hé môi. Lát sau, khi lấy lại bình tĩnh, biết là linh mục, họ yêu cầu cha ngồi xuống, và cha Cao nhẹ nhàng ngồi xuống. Ngài muốn bước vào cuộc hiến tế bằng một thái độ vâng phục hoàn toàn.

Thày Tự thấy cha bị bắt cũng vội chạy đến xưng là đệ tử của cha. Cha định không nhận, nhưng thày khẩn khoản : “Xin cha cho con theo cha đến cùng”. Cha Cao nghe thày xin thế thì xúc động, ngài tháo chiếc khăn quàng, xé một mảnh trao cho người môn sinh và nói: “Cầm lấy, con hãy giữ nó làm bằng chứng cho lời con đã hứa”. Thày Tự đã giữ mãi miếng vải đó trong những ngày tháng cùng bị giam với cha. Sau này, thày đã viết lại cuộc tử đạo đau thương của Tôn Sư mình. Và cuối cùng, với mảnh vải như kỷ vật giao ước, thày Tự đã theo gót người cha kính yêu: hy sinh mạng sống vì Đức Kitô ngày 01.7.1840.

Tại Đồng Hới, cha Cao phải ra tòa chung với cha Điểm và cha Khoa. Quan hỏi: “Đạo trưởng Cao, vua đã cấm Gia Tô. Nếu ông bước qua Thập Giá, ta sẽ thả ông về ngay”. Cha trả lời: “Thà tôi chết ngàn lần còn hơn”. Quan hỏn tiếp: “Tại sao ông không về nước mà giảng, ở đây làm gì để phải trốn tránh hết chỗ này đến chỗ khác?”. Cha đáp: “vua cấm đạo sau khi tôi đã đến nước này, từ đó vua cấm tàu Au Châu cập bến Việt Nam thì làm sao tôi có thể về được”. Quan lại hỏi: “Ông đã ở nhà những ai ?”. Cha trả lời: “Tôi đã bị quan bắt, tôi xin chịu cực hình một mình tôi thôi”. Quan liền ra lệnh đánh cha 30 roi, lính nọc cha ra, đánh cho đủ số. Tuy rất đau đớn, cha Cao vẫn không kêu than một lời, quan hỏi ngài có đau không, cha đáp: “Tôi cũng bằng xương bằng thịt như ai khác, lẽ nào không đau. Nhưng mặc kệ, trước và sau trận đánh tôi vẫn thấy thoải mái”.

Quan đành giải cha về ngục, hôm khác, quan bắt cha chứng kiến cảnh tra tấn thày Tự, nhưng đến khi thẩm tra lại, ông gọi cha Cao ra đối chất: – Tại sao ông cứng đầu thế?

– Thưa, câu hỏi của ngài tôi không trả lời khác hơn được.

– Đã vậy ngày mai ông sẽ chịu 100 roi.

– Thưa dù đánh 300 roi tôi cũng chịu, chỉ xin một điều là đừng hỏi tôi về dân chúng.

– Thế nếu ông phải ra mắt vua, đứng bên lò lửa cháy bừng, với những chiếc kìm nung đỏ sắt lóc thịt ông ra, liệu ông còn im lặng được không?

– Thưa, chừng đó sẽ biết, tôi không dám quá tự phụ về mình.

Biết không thể làm cha đổi ý, quan liền nghị án gởi về kinh đô. Cha Cao bị giam chung với hai cha Điểm và Khoa, ba vị linh mục hằng ngày cùng nhau đọc kinh Mân Côi và hát vang bài “Ave Maria Stella”: Kính chào Mẹ Maria là Sao Mai rực rỡ, xin chuyển cầu cho chúng con”. Mấy ngày đầu, vì chưa tìm ra tràng hạt, ba vị nhổ lông quạt để đếm kinh. Ba cha phó thác đời mình cho nữ vương các linh mục : “Như xưa Mẹ đã dâng Con yêu quý trong đền thờ, nay cũng xin hiến dâng chúng con trong cuộc tử đạo đầy hồng phúc”.

Trong những ngày tù tội, cha Cao nhận được văn thư Tòa Thánh gởi tới, đặt ngài làm Giám mục Giám mục hiệu tòa Acanthe và làm Đại diện Tông tòa coi sóc giáo phận Tây Đàng Ngoài, thay thế Đức cha Harvard Du. Thế nhưng, vì đang bị cầm tù, ngài không thể tiến hành nghi lễ thụ phong. Chức vụ đó sau này được trao cho cha Retord Liêu.

Ngày 24.11.1838, quan vào ngục tuyên đọc bản án xử trảm. Đức cha Cao yên lặng lắng nghe sắc chỉ của nhà vua, rồi nói với quan rằng : “Thưa quan, từ bé đến nay tôi chưa lạy ai, vì bên Âu Châu chúng tôi, đó là hành vi kính trọng chỉ dành cho Đấng Tối Cao. Nhưng điều tôi vừa nghe làm tôi quá vui mừng, xin được bày tỏ lòng tri ân của tôi theo kiểu Đông Phương”.

Nói xong, ngài quỳ xuống định lạy, nhưng viên quan quá xúc động, không thốt lên lời, vội cản ngăn ngài lại.

Lúc dẫn đi xử, Đức cha Cao đi dầu, cổ mang gông tay cầm tràng hạt, vừa đi vừa đọc kinh. Một viên quan khác, ít thiện cảm với người Công Giáo đi lại gần, hỏi Đức cha có sợ chết không. Ngài trả lời : “Tôi đâu phải là quân phiến loạn hay quân trộm cướp mà sợ chết. Tôi chỉ sợ một mình Thiên Chúa. hôm nay tôi chết, mai sẽ đến phiên ông”.

Nghe thế, viên quan thét lên: “Láo quá! Tát cho nó vài cái”. Nhưng không người lính nào tuân lệnh ông. Đức cha nói với quan : “Nếu lời đó làm phiền ông thì xin ông tha lỗi”.

Tại pháp trường Đồng Hới, hai cha Khoa và Điểm bị xử giảo trước. Đến lượt xử chém Đức cha cao, người lý hình rất kính phục ngài, phải uống rượu để lấy bình tĩnh, không ngờ vì quá ché, anh đã chém trật vào tai, hàm và vai Đức cha. mãi đến nhát thứ bẩy, đầu vị thừa sai mới lìa khỏi cổ. Thân xác ngài được chôn cất ngay tại chỗ, năm sau mới được các tín hữu cải táng về họ Hướng Phương.

Năm 1843, hài cốt Đức cha Cao được đưa về chủng viện Hội Thừa Sai Paris, đặt cạnh hài cốt các thừa sai Gagelin Kính và Jarcard Phan.

Đức Lêo XIII suy tôn Giám mục Borie Cao lên bậc Chân Phước ngày 27.05.1900. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.

Nguồn từ Thư Viện Đa Minh

Trường Thi Tử Đạo

Phêrô Borrie Cao giám mục
Năm Mậu Thìn (1808) quê thực Paris
Trốn hầm nghe lính hết đi
Bò lên khỏi miệng lính thì tưởng ma

Vì lúc đó đang là nhem tối
Cha bước lên hỏi hối tìm ai
Chúng tôi tới bắt trói Ngài
Giải về Ðồng Hới, quan sai nhốt tù

Cha bị nhốt trong khu ngục tối
Thì sắc phong tiếp nối đã ban
Cha Cao Giám Mục huy hoàng
Quan phòng của Chúa, lên hàng Chủ Chăn

Lãnh nhận chức khó khăn trong ngục
Suốt ngày đêm tiếp tục cầu xin
Cho con lối Chúa dõi tìm
Gông xiềng phó thác, Trái Tim nhân lành

Giải pháp trường ngoại thành Ðồng Hới
Ngài nguyện cầu cho tới lìa đời
Lý hình đã tiến tới nơi
Vung gươm bảy nhát, mới rơi nổi đầu

Tại pháp trường đào sâu chôn cất
Cả giáo dân hiệp nhất đưa về
Hướng Phương giáo xứ nhà quê
Nơi đây an táng, trọn bề chứng nhân

Một đôi nét về phần tiểu sử
Nơi nước sanh ở xứ Paris
Học hành cũng chẳng muốn đi
Ép vào chủng viện, cậu thì chẳng ham

Kỷ luật phạm đã làm Giám đốc
Bị nhiều lần cấp tốc sửa sai
Quan phòng có Chúa quản cai
Thụ phong Linh mục, Thừa sai lên đàng

Phúc tử đạo tiếng vang Mậu Tuất (1838)
Tuổi thanh xuân đẹp nhất bên Cha
Canh Tý (1900) Toà Thánh Roma
Suy tôn Chân Phước hoan ca Nước Trời

Lời bất hủ: Ra trước công đường, quan đối chất với Ðức Cha:
Hỏi: Tại sao ông cứng đầu thế?
Ðáp: Thưa, câu hỏi của ngài tôi không trả lời khác hơn được.
Hỏi: Ðã vậy ngày mai ông sẽ chịu 100 roi
Ðáp: Thưa dù đánh 300 roi tôi cũng chịu, chỉ xin một điều là đừng hỏi tôi về dân chúng.
Hỏi: Thế ông phải ra mắt vua, đứng bên lò lửa cháy bừng, với những chiếc kìm nung đỏ sắp lóc thịt ông ra, liệu ông còn im lặng được không?
Ðáp: Thưa chừng đó sẽ biết, tôi không dám quá tự phụ về mình. Khi Ðức Cha nghe án của vua không quỳ, rồi nói với quan rằng: “Thưa quan, từ bé đến nay tôi chưa lạy ai, vì bên Âu Châu chúng tôi, đó là hành vi kính trọng chỉ dành cho Ðấng Tối Cao. Nhưng điều tôi vừa nghe, làm tôi vui mừng quá, xin được bầy tỏ lòng tri ân của tôi theo kiểu Ðông Phương. Lúc dẫn Ðức Cha đi xử, có một viên quan lại gần hỏi Ðức Cha rằng: “Ông có sợ chết không?”. Ðức Cha đáp: “Tôi đâu phải là quân phiến loạn, hay quân trộm cướp mà sợ chết. Tôi chỉ sợ một mình Chúa. Hôm nay tôi chết, mai sẽ đến lượt ông”.

https://hddmvn.net/24-thang-muoi-mot-thanh-phero-borie-cao-1808-1838/
25 Tháng Mười Một
Thánh Columban
(543? – 615)
25 Tháng Mười Một Thánh Columban (543? – 615)
 Thánh Columban là nhà truyền giáo nổi tiếng người Ái Nhĩ Lan, hoạt động ở Âu Châu. Khi còn là thanh niên, ngài bị đau khổ dữ dội vì sự cám dỗ của xác thịt, ngài phải xin sự cố vấn của một bà đạo đức sống ẩn tu lâu năm. Qua lời khuyên bảo của bà, ngài nhìn thấy ơn gọi của mình. Ðầu tiên ngài là một tu sĩ trên đảo Lough Erne, sau đó ngài theo học tại tu viện Bangor.

Sau nhiều năm sống tách biệt để cầu nguyện, ngài đến xứ Gaul (nước Pháp bây giờ) để truyền giáo cùng với 12 người bạn. Các ngài được dân chúng quý trọng vì sự hăng say rao giảng, làm việc tông đồ, và luôn tuân giữ lời khấn bác ái, trong khi tu sĩ thời ấy thì lười biếng và dân chúng luôn luôn xung đột. Thánh Columban thiết lập vài tu viện ở Âu Châu, mà sau này trở thành các trung tâm tôn giáo và văn hóa.

Như mọi vị thánh khác, ngài cũng bị chống đối. Cuối cùng, ngài phải cầu khẩn đến đức giáo hoàng để chống với cáo buộc của các giám mục người Pháp, nhằm minh xác điều ngài giảng dạy là chân thật, và chấp thuận các tục lệ của Ái Nhĩ Lan. Ngài khiển trách nhà vua về đời sống dâm loạn của ông, dù đã thành hôn. Do đó, thánh nhân đã bị trục xuất trở về Ái Nhĩ Lan. Vì bão lớn, tầu của ngài bị mắc cạn, và ngài lại tiếp tục công việc truyền giáo ở Âu Châu. Sau cùng, ngài đến nước Ý, là nơi ngài được tiếp đón ân cần bởi ông vua của người Lombard. Trong những năm cuối đời, ngài thiết lập một tu viện nổi tiếng ở Bobbio, và cũng là nơi ngài từ trần. Các văn tự ngài để lại gồm một luận án về sự ăn năn sám hối, và các văn bản chống với bè rối Arian, các bài giảng, thi ca và quy luật tu viện.

Lời Bàn

Sự phóng túng tình dục ngày nay đã đến mức quá độ, chúng ta cần nhớ đến gương mẫu sống động của những thanh niên sống khiết tịnh như Thánh Columban. Và cuộc sống an nhàn của thế giới Tây Phương ngày nay, trái ngược với hình ảnh bi thảm của hàng triệu người đang chết đói, chúng ta phải chịu khó sống khắc khổ và có kỷ luật như các tu sĩ Ái Nhĩ Lan. Chúng ta cho rằng, họ quá nghiêm khắc, họ đi quá xa. Nhưng chúng ta sẽ đi được tới đâu?

Lời Trích

Trong thư gửi cho đức giáo hoàng nói về sự tương tranh ở Lombardy, Thánh Columban viết: “Chúng con là người Ái Nhĩ Lan, sống ở bên kia quả địa cầu, là những người theo Thánh Phêrô và Phaolô và các môn đệ đã viết ra những quy tắc thiêng liêng dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Chúng con không chấp nhận những gì khác hơn là giáo huấn và truyền thống tông đồ này… Con thú nhận là con rất đau lòng vì điều tiếng xấu về ngai tòa Thánh Phêrô ở quốc gia này… Mặc dù Rôma thật xa cách, nhưng chúng con rất tôn trọng chỉ vì ngai tòa này… Xin Ðức Thánh Cha hãy để ý đến sự bình an của Giáo Hội, xin ngài đứng giữa đàn chiên và bầy sói”.

 http://hddmvn.net/tusach/tusach/hanhcacthanh/theovetchannguoi.htm

Ngày 25.11: Thánh Catarina Alêxanđria

https://hddmvn.net/ngay-25-11-thanh-catarina-alexandria/

Thánh nữ Catarina sống vào thời Giáo hội sơ khai. Ngài là con gái của một gia đình dân ngoại giàu có ở thành Alêxanđria, nước Ai Cập. Thánh nữ là một cô gái rất đẹp và rất ham thích việc học hành. Catarina Alêxanđria say mê nghiên cứu những vấn nạn sâu xa của triết học và tôn giáo. Một ngày kia, thánh nữ Catarina Alêxanđria bắt đầu đọc các sách viết về Kitô giáo. Và chẳng bao lâu, Catarina Alêxanđria trở thành Kitô hữu.

 Thánh nữ Catarina Alêxanđria được 18 tuổi khi hoàng đế Maxentiô bắt đầu bách hại các Kitô hữu. Rất mực can đảm, thánh nữ đáng yêu này đã đến nói cho nhà vua biết về sự độc ác của ông. Khi ông vua này bàn về các tà thần, Catarina đã minh nhiên chỉ cho ông thấy các thần ấy là giả tạo. Maxentiô không thể lý giải được các vấn nạn của Catarina; và vì thế, ông đã triệu vời 50 triết gia ngoại giáo hảo hạng nhất đến để đối phó với Catarina. Một lần nữa, Catarina lại làm sáng tỏ chân lý của đạo Công giáo. Tất cả 50 triết gia này đều phải công nhận rằng Catarina có lý. Hết sức tức giận, Maxentiô đã cho lính giết chết từng người trong họ. Sau đó, ông cố gắng chinh phục Catarina bằng cách tặng cho thánh nữ chiếc vương miện hoàng hậu. Khi biết Catarina Alêxanđria nhất mực từ chối, ông liền sai quân lính đánh đòn và tống giam Catarina vào ngục.

Đang lúc Maxentiô cắm trại ở nơi xa, vợ ông và một viên sĩ quan đã tò mò đến nghe cô bé Kitô hữu lạ lùng này thuyết giảng. Họ đã tới bên phòng giam của Catarina Alêxanđria. Kết quả là họ cùng 200 lính canh khác đã được ơn trở lại. Vì chuyện này, hết thảy cả bọn đã bị Maxentiô lên án tử. Bản thân Catarina thì bị đặt trên một bánh xe đầy đinh nhọn để chịu hành hình. Thế nhưng khi bánh xe bắt đầu quay, thì lạ lùng thay, nó cứ bị bật ra. Sau cùng, Catarina Alêxanđria bị trảm quyết. Thánh nữ được tôn tặng danh hiệu là thánh bổn mạng của các triết gia Công giáo.

Thánh nữ Catarina Alêxanđria đã trân quý vẻ đẹp của niềm tin Kitô giáo. Đó là lý do thánh nữ có thể thuyết phục cách hiệu quả những người khác tôn giáo cùng tin theo đạo. Chúng ta hãy nài xin thánh nữ Catarina Alêxanđria giúp chúng ta tăng triển lòng yêu mến đối với các chân lý đức tin như ngài.

26 Tháng Mười Một
Thánh Leonard ở Cảng Maurice
(1676-1751)
Thánh Leonard, người được Thánh Alphonsus Liguori gọi là “nhà truyền giáo vĩ đại của thế kỷ 18”, cũng là một tu sĩ Phanxicô cố gắng đến truyền giáo ở Trung Cộng nhưng thất bại, và ngài đã thành công lớn trong một số công việc khác. Cha của Leonard là một thuyền trưởng, mà gia đình sinh sống ở cảng Maurice nằm về phía đông bắc của bờ biển nước Ý.
Vào lúc 13 tuổi, Leonard đến Rôma sống với người chú là Agostino, và học tại trường Roman College. Leonard là một sinh viên giỏi, mà cha mẹ muốn ngài theo đuổi ngành y khoa. Tuy nhiên, vào năm 1697, ngài gia nhập dòng Phanxicô, trái với sự chống đối quyết liệt của người chú. Sau khi thụ phong linh mục, Leonard bị mắc bệnh lao, và được gửi về nhà để tĩnh dưỡng hoặc chờ chết. Ngài hứa rằng, nếu được khỏi bệnh ngài sẽ tận hiến cho việc truyền giáo và hoán cải kẻ tội lỗi.
 
 Không bao lâu, ngài được lành bệnh và bắt đầu quãng đời 40 năm tận tụy rao giảng trong các cuộc tĩnh tâm, trong mùa Chay và trong các cuộc canh tân giáo xứ (tuần đại phúc) trên toàn nước Ý. Cuộc tĩnh tâm thường kéo dài từ 15 đến 18 ngày, và ngài thường ở lại thêm một tuần nữa để giải tội. Sau những lần tổ chức tĩnh tâm, để duy trì lòng đạo đức sốt sắng của giáo dân, Cha Leonard thường cổ võ việc Ngắm Ðàng Thánh Giá, mà thời ấy rất ít người tham dự.
Ngài cũng thường rao giảng về Thánh Danh Giêsu. Cha Leonard được phong Thánh vào năm 1867; vào năm 1923, ngài được đặt làm quan thầy cho những ai chuyên đi giảng về tuần đại phúc.

Lời Bàn

Sự thành công của một người đến rao giảng trong buổi tĩnh tâm, thì tùy thuộc vào lòng nhiệt thành của họ có bền bỉ với thời gian hay không. Ðiều khác biệt là sự hoán cải của người tham dự. Ðối với Thánh Leonard, việc Ngắm Ðàng Thánh Giá và xưng tội thường xuyên sẽ giúp giáo dân giữ được lòng đạo đức, mà ngài đã khơi dậy qua lời rao giảng. Lần sau cùng bạn Ngắm Ðàng Thánh Giá là khi nào?

Lời Trích

Có lần Thánh Leonard nói, “Nếu vào lúc tôi chết, Thiên Chúa khiển trách tôi vì quá nhân từ với kẻ tội lỗi, tôi sẽ thưa, ‘Lạy Chúa Giêsu, nếu nhân từ với kẻ tội lỗi là một sai lầm, thì đó là sự sai lầm con học được từ Ngài, vì Chúa không bao giờ khiển trách bất cứ ai đến với Ngài để xin được thương xót” (Trích trong cuốn Thánh Leonard ở Cảng Maurice, t. 9, của Leonard Foley, O.F.M.).

http://hddmvn.net/tusach/tusach/hanhcacthanh/theovetchannguoi.htm

26 Tháng Mười Một
Thánh Gioan Berchmans
(1599-1621)

Thánh Gioan Berchmans sinh năm 1599 tại thị trấn Diest nước Bỉ trong một gia đình nghèo, cha làm thợ đóng giầy, mẹ suốt đời đau yếu. Từ nhỏ, Ngài sống trầm lặng, thích cầu nguyện, và siêng năng chăm sóc việc nhà. Vì nhà nghèo không lo cho ngài ăn học được, năm 10 tuổi, ngài đã đến giúp việc cho cha sở để được đi học trong 3 năm. Sau đó, ngài đến  Mechelen vừa giúp việc vừa học thêm 4 năm nữa. Tại đó, năm 17 tuổi, ngài được nhận vào nhà tập Dòng Tên. Năm 19 tuổi sau khi khấn, ngài được gửi đi học triết lý tại Rôma. Vừa hoàn tất chương trình 3 năm thì ngài qua đời ngày 13. 8. 1621 sau một cơn bệnh nhẹ.

Nhìn bên ngoài, chúng ta không thấy ngài có gì là vượt trội. Bí quyết của ngài là làm việc nhỏ với tình yêu lớn, vì lòng yêu mến thâm sâu và mãnh liệt. Ngài đặc biệt yêu mến Thánh Thể và Đức Mẹ. Ai biết cũng yêu mến ngài vì lòng đạo đức chân thành, đức bác ái thực tế, và tính vui vẻ hồn nhiên.

Chúng ta đọc được trong nhật kí của ngài những câu như: “Thiên Chúa đổ bình an tràn ngập tâm hồn tôi như trận mưa lụt”, hoặc “tôi được an ủi xưa nay chưa từng có, tôi cảm thấy bị một sức mạnh vô địch lôi kéo tôi đến với Thiên Chúa”. Trước giờ phút tắt thở, cầm thánh giá khấn, chuỗi Môi Khôi và cuốc Luật Dòng, ngài nói: “đây là 3 kho tàng quí giá nhất của tôi,  và có 3 kho tàng ấy, tôi sẽ sướng được chết”.

Ngài được Đức Thánh Cha Leo XIII phong thánh năm 1888

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Cha đã soi sáng cho thánh Gioan Berchmans biết nỗ lực sống đức bác ái trọn hảo và sau cuộc lữ hành trần thế, thánh nhân đã đạt tới hạnh phúc trọn vẹn trên Nước Trời. Nhờ lời thánh nhân chuyển cầu, xin Cha gia tăng sức mạnh của Cha cho chúng con để chúng con hân hoan bước đi trên con đường yêu thương của Cha.

https://hddmvn.net/26-thang-muoi-mot-thanh-gioan-berchmans-1599-1621/

 

Ngày 26.11: Chân phước Giacôbê Alberiôn

Chân phước Giacôbê Alberiôn sinh ngày mùng 4 tháng Tư năm 1884 tại miền Bắc nước Ý. Ngài là con thứ năm trong gia đình làm nghề nông vất vả. Giacôbê lớn lên trong bầu khí Kitô giáo đạo hạnh, nơi đức tin không những được dạy mà còn được sống một cách cụ thể. Một ngày kia tại trường học, lúc Giacôbê lên 6, cô giáo của Giacôbê đã hỏi các học sinh của mình rằng muốn làm gì khi trưởng thành. Và tới lượt Giacôbê Alberiôn. Sau khi suy nghĩ một lát, ngài tuyên bố: “Thưa cô, em sẽ làm một linh mục!”

 Lên 16 tuổi, Giacôbê Alberiôn gia nhập chủng viện Alba. Giacôbê đi tới đó với thân phụ ngài trên một chiếc xe bò. Có vài chủng sinh đã cười nhạo và nói: “Ê, cậu ấy tới đây học với bò kìa!” Nhưng Giacôbê Alberiôn, với trí thông minh lanh lẹ và vui đùa, đã trả lời họ rằng: “Ồ, miễn là con bò không gặm sách vở của tôi là được!”

Trong đêm 31 tháng Mười Hai năm 1900, một đêm chia tay với thế kỷ thứ 19 để bước sang thế kỷ thứ 20, Giacôbê Alberiôn đã nhận được một ơn gọi rõ rệt. Sau thánh lễ nửa đêm, các chủng sinh được tự do lưu lại trong nhà thờ bao lâu tùy thích. Mình Thánh Chúa được đặt cách trọng thể; và Giacôbê Alberiôn đã ở lại cầu nguyện suốt bốn giờ đồng hồ. Trong thời gian ấy, Giacôbê nhận được một ánh sáng đặc biệt nơi bí tích Thánh Thể. Giacôbê Alberiôn nghe thấy Đức Chúa Giêsu mời gọi mọi người hãy đến với Chúa và tất cả mọi người trong thế kỷ mới này đều đến với Đức Chúa Giêsu.

Rồi, Giacôbê Alberiôn được thụ phong linh mục ngày 29 tháng Sáu năm 1907. Và ngài đã dành trọn con tim cho sứ vụ linh mục. Giacôbê là cha linh hướng của chủng viện Alba. Ngài là giáo sư dạy môn sử học và là một giảng viên giáo lý. Năm 1913, Giacôbê Alberiôn cũng được mời làm giám đốc nhà xuất bản tờ tuần báo của giáo phận. Trong khi thực hiện tất cả những công việc này, Giacôbê cầu nguyện và chờ đợi Thiên Chúa sẽ dẫn dắt ngài trong sứ vụ đặc biệt phục vụ Giáo hội. Giacôbê Alberiôn nhận thấy rằng ngài đang được mời gọi để thiết lập một cộng đoàn tu trì với sứ mạng rao truyền lời Chúa bằng việc sử dụng các công nghệ hiện đại, nhất là qua việc xuất bản.

Giấc mơ của cha Giacôbê Alberiôn lúc đầu nhỏ bé như hạt cải, chỉ với sự giúp đỡ của vài cậu nhỏ đang học cách in ấn trong căn nhà thuê mướn. Nhưng thời gian cũng như lòng tin và lời cầu nguyện đã làm cho hạt giống này trở nên một cây to. Các tu sĩ và linh mục cũng như các nữ tu dòng thánh Phaolô không ngừng phát triển về nhân sự, trong nước cũng như ngoài nước. Họ dùng những kỹ thuật hiện đại để đem Tin mừng đến cho lớp người hiện đại như việc xuất bản, các chương trình truyền thanh, truyền hình… Và khi công nghệ mới được phát minh, họ liền sử dụng nó để phục vụ Chúa Kitô và Giáo hội của Người.

Khi hai hội dòng nam và nữ vừa được thành hình, cha Giacôbê Alberiôn lại thiết lập thêm mười cộng đoàn tu trì và nhiều tu hội đời khác nữa, tất cả làm thành đại gia đình Phaolô. Alberiôn trở thành cha linh hướng của hết thảy con cái mình, cả nam lẫn nữ, trao truyền cho họ niềm tín thác tuyệt đối vào sự quan phòng của Thiên Chúa và tận tình đối với Thánh Thể, với lời Chúa, với Giáo hội và với sứ vụ tông đồ qua các phương tiện thông tin đại chúng.

Lúc Công đồng chung Vaticanô II được khai mở năm 1962, cha Giacôbê Alberiôn là một trong số các bề trên tổng quyền được mời tới tham dự. Từ ngày 11 tháng Mười năm 1962 đến ngày mùng 8 tháng Mười Hai năm 1965, cha Giacôbê Alberiôn đã tham dự tất cả các cuộc họp của Công đồng. Cha ngồi thinh lặng, hầu như bất động, lắng nghe và cầu nguyện. Cha đặc biệt quan tâm đến văn kiện về các phương tiện truyền thông đại chúng, được các nghị phụ Công đồng thảo luận. Đó là một sự xác nhận về công việc mà cha Giacôbê Alberiôn và gia đình Phaolô của ngài đã thực hiện trong Giáo hội suốt 50 năm qua.

Khi cha Giacôbê Alberiôn cao tuổi, công việc cũng như năng lực của ngài vẫn tiếp tục làm cho những người quen biết ngài phải ngạc nhiên. Ấn tượng nhất là cha phải đau khổ vì căn bệnh viêm khớp xương cấp tính hành hạ. Chỉ khi bước sang tuổi 80, người ta mới nhận thấy cha Alberiôn chậm dần và suy giảm nhanh chóng. Vì bị buộc phải bỏ bớt công việc, cha lại dành nhiều thời giờ và năng lực cho việc cầu nguyện, mà cha gọi là “làm việc bằng đầu gối.” Ngay cả khi không thể đọc sách được nữa, cha Alberiôn vẫn tiếp tục cầu nguyện bằng kinh Mân Côi.

Từ ngày 24 đến ngày 26 tháng Mười Một năm 1971, cha Giacôbê Alberiôn đã phải đau đớn vì căn bệnh cuối cùng, viêm phổi và nghẽn thận. Ngài rơi vào cơn hôn mê và không còn biết gì khi đức thánh cha Phaolô VI thình lình ghé thăm ngài. Đức thánh cha đã bày tỏ niềm kính trọng và biết ơn sâu xa đến cha Giacôbê Alberiôn và hết thảy mọi việc mà suốt cuộc đời cha đã thực hiện cho Giáo hội và cho cả thế giới. Khoảng nửa giờ sau chuyến viếng thăm của đức thánh cha, cha Giacôbê Alberiôn về trời. Cha được đức thánh cha Gioan Phaolô II tôn phong lên bậc chân phước ngày 27 tháng Tư năm 2002.

 Chân phước Giacôbê Alberiôn đã hiểu được giá trị của công nghệ tân tiến khi biết sử dụng đúng mức. Chúng ta có dùng các phương tiện truyền thông đại chúng để mở mang trí tuệ với những điều tốt đẹp và hữu ích không? Chúng ta có xa tránh những phương tiện nguy hại không?

26 Tháng Mười Một
Thánh Gioan Berchmans
(1599-1621)

Thánh Gioan Berchmans sinh năm 1599 tại thị trấn Diest nước Bỉ trong một gia đình nghèo, cha làm thợ đóng giầy, mẹ suốt đời đau yếu. Từ nhỏ, Ngài sống trầm lặng, thích cầu nguyện, và siêng năng chăm sóc việc nhà. Vì nhà nghèo không lo cho ngài ăn học được, năm 10 tuổi, ngài đã đến giúp việc cho cha sở để được đi học trong 3 năm. Sau đó, ngài đến  Mechelen vừa giúp việc vừa học thêm 4 năm nữa. Tại đó, năm 17 tuổi, ngài được nhận vào nhà tập Dòng Tên. Năm 19 tuổi sau khi khấn, ngài được gửi đi học triết lý tại Rôma. Vừa hoàn tất chương trình 3 năm thì ngài qua đời ngày 13. 8. 1621 sau một cơn bệnh nhẹ.

Nhìn bên ngoài, chúng ta không thấy ngài có gì là vượt trội. Bí quyết của ngài là làm việc nhỏ với tình yêu lớn, vì lòng yêu mến thâm sâu và mãnh liệt. Ngài đặc biệt yêu mến Thánh Thể và Đức Mẹ. Ai biết cũng yêu mến ngài vì lòng đạo đức chân thành, đức bác ái thực tế, và tính vui vẻ hồn nhiên.

Chúng ta đọc được trong nhật kí của ngài những câu như: “Thiên Chúa đổ bình an tràn ngập tâm hồn tôi như trận mưa lụt”, hoặc “tôi được an ủi xưa nay chưa từng có, tôi cảm thấy bị một sức mạnh vô địch lôi kéo tôi đến với Thiên Chúa”. Trước giờ phút tắt thở, cầm thánh giá khấn, chuỗi Môi Khôi và cuốc Luật Dòng, ngài nói: “đây là 3 kho tàng quí giá nhất của tôi,  và có 3 kho tàng ấy, tôi sẽ sướng được chết”.

Ngài được Đức Thánh Cha Leo XIII phong thánh năm 1888

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Cha đã soi sáng cho thánh Gioan Berchmans biết nỗ lực sống đức bác ái trọn hảo và sau cuộc lữ hành trần thế, thánh nhân đã đạt tới hạnh phúc trọn vẹn trên Nước Trời. Nhờ lời thánh nhân chuyển cầu, xin Cha gia tăng sức mạnh của Cha cho chúng con để chúng con hân hoan bước đi trên con đường yêu thương của Cha.

https://hddmvn.net/26-thang-muoi-mot-thanh-gioan-berchmans-1599-1621/