Những Mốc Lịch Sử Quan Trọng Của GHCGVN--Tác giả: Lm. Phanxicô Đào Trung Hiệu, OP

Ngày đăng: 3:34 AM - 12/11/2022

Những Mốc Lịch Sử Quan Trọng Của GHCGVN

Sức sống của Giáo hội Việt Nam hôm nay là thành quả của gần 500 năm hạt giống Tin Mừng được gieo trồng (từ năm 1533), cũng là thành quả của 400 năm cây đức tin được vun xới và đặt nền móng (năm 1615), của 360 năm Hội Thánh đi vào tổ chức với hai Giáo phận Tông Tòa đầu tiên (năm 1659) và của gần 60 năm Giáo hội độc lập và trưởng thành (năm 1960). Mỗi thời điểm đều được khắc ghi bằng những dấu ấn đặc biệt. Nhưng trong tất cả, Giáo hội Việt Nam đã chia sẻ những bước lịch sử thăng trầm của quê hương và nghiệm rõ hồng ân chan hòa từ Thiên Chúa.
 I. Thời bảo trợ (1533 – 1659)
Năm 1533, theo Khâm định việt sử (33, 6b), chỉ dụ cấm đạo của vua Lê Trang Tôn đã nói đến một thừa sai Tây phương, I-Ni-Khu, lén theo đường biển vào truyền đạo tại làng Ninh Cường và làng Quần Anh, huyện Nam Chân, cùng làng Trà Lũ huyện Giao Chỉ (cả hai nay thuộc Gp. Bùi Chu).

 Tiếp theo sau là dấu chân rao giảng của các linh mục dòng Đaminh: Cha Gaspar Da Santa Cruz tại Hà Tiên năm 1550, Cha Luis de Fonseca và Grégoire de la Motte tại Quảng Nam năm 1588, và Cha Bartôlômêô Ruiz dòng Phanxicô năm 1583.

Đặc biệt là việc gia nhập đạo của công chúa Mai Hoa (Maria Flora) năm 1591, tại Thanh Hóa, do linh mục Ordonez.

Dựa vào gia phả nhà họ Đỗ của thánh linh mục Đỗ Mai Năm, cụ Đỗ Hưng Viễn, người làng Bồng Trung, tỉnh Thanh Hóa, được coi là tín hữu Việt Nam đầu tiên. Cụ đi sứ và được Rửa tội tại Macao thời vua Lê Anh Tông năm 1573.

Năm 1615, tại Cửa Hàn, Quảng Nam, các linh mục dòng Tên, dưới sự điều hành của linh mục Buzomi, đã khai mở một giai đoạn mới trong lịch sử truyền giáo tại Việt Nam qua việc “thích nghi văn hóa”: quan tâm đến phong tục Việt Nam và giảng đạo bằng Tiếng Việt. Các vị có sáng kiến ca vãng Giáng Sinh, cổ võ ba ngày Tết kính Chúa Ba Ngôi, thay cây nêu bằng cây thánh giá, soạn sách giáo lý bằng Tiếng Việt…

Điểm nổi bật của giai đoạn này là việc Cha Đắc Lộ cho xuất bản tại Rôma năm 1651 quyển từ điển Việt – Bồ – La, sách Văn Phạm Tiếng An Nam và cuốn giáo lý song ngữ Việt – La (sách Phép Giảng Tám Ngày).

II. Thời tông tòa (1659 – 1960)
Trước những làm dụng của các vua bảo trợ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, Tòa Thánh đã lấy lại quyền điều hành việc truyền giáo và thiết lập Bộ Truyền Giáo năm 1622. Tòa Thánh lập ra chức Đại Diện Tông Tòa cho các giám mục đang hoạt động truyền giáo trực thuộc Tòa Thánh.

 Ngày 09.09.1659, Tòa Thánh thiết lập hai giáo phận đầu tiên trên đất Việt và đặt hai Đại Diện Tông Tòa:

      – Giáo phận Đàng Trong: từ sông Gianh trở vào phía Nam do Đức cha Lambert de la Motte phụ trách.
      – Giáo phận Đàng Ngoài: từ sông Gianh trở ra miền Bắc do Đức cha Phanxicô Pallu phụ trách.
Năm 1668, Đức cha Lambert de la Motte đã truyền chức linh mục cho bốn linh mục Việt Nam tiên khởi tại Thái Lan: Cha Giuse Trang, Cha Luca Bền, Cha Bênêđictô Hiền và Cha Gioan Huệ. Tiếp theo sau, nhiều linh mục Việt Nam cũng được thụ phong (năm 1700 là 43 linh mục; năm 1800 là 119 linh mục).

 Vào tháng 02.1670, Đức cha Lambert de la Motte cùng với 3 vị thừa sai và 9 linh mục Việt Nam Đàng Ngoài đã họp Công Đồng đầu tiên trên đất Việt tại Phố Hiến, Hưng Yên.

Trước hiểm họa thực dân Pháp, triều đình nhà Nguyễn có sự phân hóa sâu sắc giữa phái chủ chiến và phái chủ hòa. Trong bối cảnh phức tạp ấy, Nhà Nguyễn đã ban hành nhiều chỉ dụ cấm đạo từ năm 1833 – 1861.

Từ năm 1862, khi vua Tự Đức tuyên bố ngưng cấm đạo, các dòng tu và chủng viện được thành lập khắp nơi.

Trong bối cảnh khó khăn do chỉ dụ cấm đạo, niềm tin Kitô hữu được thanh luyện và số lượng người Kitô vẫn tiếp tục gia tăng (từ 320.000 năm 1800 lên 426.000 năm 1855). Trong số những người đổ máu đào minh chứng cho niềm tin, 117 vị đã được suy tôn chân phước trong 4 đợt: 64 vị năm 1900, 8 vị năm 1906, 20 vị năm 1909 và 25 vị năm 1951.

Ngày 11.06.1933, Giáo hội Việt Nam có Đức Giám mục tiên khởi, Đức cha Gioan Baotixia Nguyễn Bá Tòng.

III. Giáo hội Công Giáo Việt Nam thời trưởng thành
Việc chọn Đức Giám mục địa phương vốn là mong ước của Thánh Bộ Truyền Giáo kể từ Huấn thị năm 1659. Sau đó, Đức Giáo hoàng XIII thúc đẩy công việc này nhanh hơn bằng việc thiết lập các tòa khâm sứ, với công tác trước mắt là chọn người địa phương lên chức giám mục.

 Qua Tông hiến Venerabilium Nostrorum, ngày 24.11.1960, Đức Thánh Cha Gioan XXIII tuyên bố thành lập 3 giáo tỉnh tại Việt Nam: Hà Nội, Huế và Sài Gòn, cùng bổ nhiệm các giám mục chính tòa nơi mỗi giáo phận. Đứng đầu ba giáo tỉnh là ba vị Tổng Giám mục. Từ đây, các giáo phận tông tòa tại Việt Nam chuyển sang giáo phận chính tòa.

Lúc này, Giáo hội Việt Nam có 20 giáo phận: giáo tỉnh Hà Nội có 10 giáo phận, giáo tỉnh Huế có 4 giáo phận và giáo tỉnh Sài Gòn có 6 giáo phận. Số tín hữu là 2.096.540 người trên 29,2 triệu dân (chiếm 7,17%) với 1.914 linh mục, 5.789 nam nữ tu sĩ và 1.530 chủng sinh.

Tính đến ngày 13/10/2017, Giáo hội Việt Nam có 26 giáo phận, 121 giám mục (trong và ngoài nước). Theo báo cáo của các giáo phận tính đến ngày 31/12/2016, Giáo hội Việt Nam có 5.482 linh mục, 25.034 tu sĩ nam nữ và 6.812.954 tín hữu Công giáo.

IV. Lời kết

Nhìn lại lịch sử gần 500 truyền giáo trên đất Việt, người tín hữu Việt Nam xin cất cao lời ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa. Khi nhìn về quá khứ với cặp mắt đức tin, chúng ta nhận ra Thiên Chúa hằng hiện diện và đồng hành với Giáo hội Việt Nam trong từng bước đi, dù khi thành công hay thất bại, dù lúc chan hòa ánh sáng hay chìm trong bóng tối.

 Xin cùng nhắc nhở với nhau: đức tin chúng ta lãnh nhận được gieo trồng và vun xới bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu đào của các vị tiền nhân. Vì thế, chúng ta cần hết sức trân trọng, gìn giữ và phát huy đức tin ấy bằng cả cuộc đời.

 Trích từ tác phẩm Lược Sử Giáo Hội Việt Nam –
Dấu Ấn 350 Năm Giáo Hội Công Giáo Việt Nam
Tác giả: Lm. Phanxicô Đào Trung Hiệu, OP

Làm chứng cho Tình yêu
Có thể là tranh biếm họa về đang đứng
Một lãnh tụ vô thần đã tuyên bố: “ Chúng ta hãy triệt phá Giáo hội, nhưng đừng tạo ra những vị tử đạo”. Khi tuyên bố như thế, một cách mặc nhiên ông ta công nhận điều mà Thánh giáo phụ Tertulianô đã nói là đúng :“ Máu các Thánh tử đạo là hạt giống nảy sinh các Kitô hữu”. Hôm nay, chúng ta mừng kính các Thánh Tử đạo tại Việt Nam. Máu các Ngài đã đổ ra năm xưa, dệt nên những trang sử oai hùng giữa lòng dân tộc. Chúng ta kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ cái chết của các bậc tiền bối cha ông và mở lòng đón nhận sứ điệp về ơn gọi tử đạo mà các Ngài chuyển giao cho con cháu là chúng ta ngày hôm nay.
Lược sử Giáo hội Việt Nam qua dòng thời gian
Hạt giống đức tin đã được gieo vào mảnh đất quê hương Việt Nam từ hơn 500 năm trước. Trong suốt chiều dài lịch sử, Giáo hội Việt Nam đã trải qua hơn 100 năm sống trong bách hại. Sắc dụ cấm đạo đầu tiên được ban hành năm 1625, kéo dài đến hết thời Văn Thân năm 1886. Hàng vạn con người đã ngã xuống do sự thù ghét. Thế gian ghét đạo, ghét Đức Giêsu và ghét luôn những môn đệ của Ngài. Đây chính là điều mà Chúa Giêsu đã cảnh báo từ 2000 năm trước (Mt 5, 11; 10, 22 ). Trong số các anh hùng Tử đạo, đã có 118 vị được ghi tên trong sổ bộ các thánh, gồm 117 hiển thánh và một chân phước. Có 97 vị là người Việt Nam, 11 vị Tây Ban Nha, và 10 vị người Pháp. Họ thuộc đủ các giai tầng xã hội, gồm 8 Giám mục, 50 linh mục, 15 thầy giảng, 1 chủng sinh và 44 giáo dân. Trong số giáo dân, có cả những vị làm quan trong triều đình, có vị làm nghề thu thuế, làm binh lính, y sĩ hoặc chỉ là nông dân quèn. Dù là người Việt Nam hay ngoại quốc, các Thánh Tử đạo đều nói lên một chứng từ duy nhất, đó là các Ngài làm chứng về Đức Giêsu chịu hiến tế, như Thánh Phaolô đã khẳng quyết: “ Chúng tôi rao giảng một Đức Kitô bị đóng đinh vào Thập giá”. Cái chết của các Ngài là bài giảng sống động nhất và thâm thúy nhất. Họ rao giảng không phải trên lý thuyết, nhưng bằng chứng tá cụ thể, những chứng tá sống động và rất sâu xa. Có 6 loại án được thực hiện để hành quyết các vị tử đạo: Bá đao (cắt thân thể thành trăm mảnh) có 1 vị; Lăng trì (chặt chân tay, mổ bụng và vất xuống sông) có 4 vị ; Thiêu sinh (đốt sống) có 6 vị; Xử giảo (xiết cổ bằng dây) có 2 vị ; Xử trảm (chém đầu) có 75 vị và chết rũ tù có 9 vị. Vị Tử đạo lớn tuổi nhất là linh mục Vũ Bá Loan 84 tuổi và trẻ nhất là chủng sinh Tôma Thiện 18 tuổi. Trong thời Trịnh Nguyễn từ năm 1745 đến năm 1774 có 4 vị. Thời vua Cảnh Thịnh (1788 - 1801 ) có 2 vị. Dưới thời Minh mạng (1820 – 1840) có 58 vị tử đạo. Trong thời Thiệu Trị từ năm 1841 đến 1847 có 3 vị và thời Tự Đức từ năm 1847 đến 1883 có 50 vị. Đó là phác lược tổng quát các mốc điểm thời gian và bối cảnh dẫn đến cái chết của các Thánh Tử đạo. Nhìn lại một cách tổng quát lịch sử của Giáo hội Việt Nam, chúng ta tạ ơn Chúa vì gia sản đức tin mà cha ông đã để lại. Gia sản đó được đan dệt bằng máu và nước mắt, đúng như lời quả quyết của thánh Tertulianô: “ Máu các vị tử đạo là hạt giống nảy sinh các Kitô hữu” (Sanguis martyrorum semen Christianorum est).
Ý nghĩa của việc tử đạo
Triết gia Jean Guitton, bạn thân của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô đệ nhị có kể lại một giai thoại. Hồi còn rất nhỏ, ban đêm ông ngủ với mẹ. Nhà hàng xóm bên cạnh có người chết. Giữa đêm khuya vắng bỗng có tiếng khóc ai oán vang lên nghe thật não nuột. Đứa bé sợ, ôm chầm lấy mẹ và hỏi: “ Mẹ ơi, chết là gì hả mẹ?” Bà mẹ trẻ lúng túng không biết trả lời thằng bé thế nào. Bà ngồi bật dậy mở Kinh thánh ra đọc. Trong Tin mừng Gioan, bà đọc thấy đoạn sau: “ Trước lễ vượt qua, Đức Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng (Ga 13,1)”. Gấp sách lại, bà nói với đứa con: “Con ơi, chết là trở về với Chúa Cha và yêu thương đến cùng. Đây là hai chiều kích đặc thù nơi cái chết của Đức Giêsu, vị tử đạo đầu tiên, và cũng được lập lại nơi cái chết của các Thánh tử đạo tại Việt nam. Các Ngài đã chết để trở về nhà Cha và hoàn tất cuộc hành trình yêu thương của mình nơi trần thế. Họ ý thức Lời Chúa dạy: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Nếu được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn, nào có ích gì?” (Mc 8, 35-36)” . Thánh Phaolô Đạm nói trước tòa án Nam Định: “ Nếu tôi có hai linh hồn, tôi sẽ bán một cái cho ma quỷ để cho các ông vui lòng, nhưng tiếc quá tôi chỉ có một linh hồn, nên tôi không thể bỏ mất”.
Nhưng trên hết, hành vi Tử đạo luôn hàm ngậm ý nghĩa của việc làm chứng. Hạn từ Marturion theo nguyên ngữ Hi Lạp cũng mang chở ý nghĩa này. Các Ngài chết để làm chứng, nhưng không phải làm chứng cho một chế độ, một chủ nghĩa, nhưng làm chứng cho một con người. Con người đó chính là Đức Giêsu, một Thiên Chúa làm người đã can đảm đón nhận cái chết khủng khiếp giống một tên cướp, để khai mở cho chúng ta chân trời ơn cứu độ. Các Thánh Tử đạo đã dùng máu của mình để làm chứng cho Đấng mà các Ngài tin theo.
Sống ơn gọi tử đạo ngày hôm nay
Trong đại hội tu sĩ trẻ thế giới tổ chức tại Rôma đầu tháng Chín năm 2016. Ban tổ chức đã dành một tiếng đồng hồ để các tu sĩ đặt câu hỏi và Đức Thánh Cha trực tiếp trả lời. Có một anh em tu sĩ dòng DonBosco đến từ Syria đứng lên phát biểu và hỏi Ngài vài điều. Đức Thánh Cha sau khi trả lời đã hỏi ngược lại: “Con từ đâu đến đây ?”. Vị tu sĩ trẻ nói là Ngài đến từ Syria. Đức Thánh Cha mở to đôi mắt nhìn vị linh mục và nói với cử tọa: “Chúng con hãy cầu nguyện cho các vị tử đạo hiện nay tại Iraq và Syria”. Cả hội trường xúc động vì tình hình chiến sự đang xảy ra rất khốc liệt tại Trung Đông, khiến bao nhiêu Kitô hữu bị giết, nhiều gia đình ly tán, các nhà thờ bị đốt phá, cả trăm ngàn người dân vô tội phải trốn tránh hoặc đi tị nạn.
Như vậy, ngày hôm nay vẫn còn các vị tử đạo, những con người bị thù ghét vì lý tưởng và niềm tin của mình. Nhưng hiểu theo nghĩa rộng hơn, sống mầu nhiệm tử đạo không phải là chuyện viễn tưởng xa vời. Đó chính là bản chất ơn gọi gắn liền với căn tính Kitô hữu chúng ta. Chúa Giêsu đã nói “ Ai muốn theo tôi phải bỏ mình vác thập giá hằng ngày mà theo tôi”(Mc 8,34).
Hầu hết các quốc gia trên thế giới ngày nay đã bãi bỏ án tử hình, và cũng tôn trọng tự do tôn giáo, ít nhất là trên lý thuyết. Việc đàn áp tôn giáo với những màn tra tấn, tống ngục hay giết chết đang dần bị con người ngày hôm nay đào thải, vì nó đi ngược với khái niệm về nhân quyền mà xã hội luôn đề cao. Tuy nhiên lời mời gọi của Đức Giêsu đi vào mầu nhiệm tự hủy để sống ơn gọi tử đạo vẫn luôn mang tính thời sự cho tất cả mọi người thuộc mọi thời đại, vì nó là thuộc tính nơi cuộc sống của những học trò Đức Giêsu. Ơn gọi Kitô hữu luôn hàm ngậm cái chết. Cái chết trên Thập giá theo gương Đức Giêsu là đích điểm mà tất cả mọi người chúng ta phải vươn tới. Văn hào Goethe đã viết: “ Làm một việc hy sinh to lớn trong khoảnh khắc thì dễ, chỉ cần chút can đảm nhất thời, nhưng thể hiện những hy sinh nho nhỏ và liên tục trong suốt cuộc đời thì khó hơn nhiều”. Đó là cái chết tiệm tiến, từ từ trong cuộc sống đức tin để sao chép lại chính cái chết của Đức Giêsu. Mô thức ơn gọi tử đạo của tất cả chúng ta hôm nay là như thế. Chúng ta phải đi sâu vào cái chết không đổ máu, không xích xiềng hay tù ngục qua cuộc sống hằng ngày và một cuộc sống như vậy chính là để làm chứng cho tình yêu.
Kết luận
Để kết luận, xin trích mượn tư tưởng của thánh Charles de Faucauld. Ngài nói: “ Ở đời này chúng ta chỉ có thể ôm lấy Chúa Giêsu bằng cách ôm trọn Thập giá của Ngài. Ta không thể yêu mến Thập giá mà lại không có Chúa Giêsu bị đóng đinh nằm ở trên. Đồng thời chúng ta cũng không thể ôm lấy Chúa Giêsu mà lại vắng bóng Thập giá”. Hoa hồng là biểu tượng của tình yêu. Cánh hoa hồng càng rực rỡ càng có nhiều gai nhọn ẩn sâu bên dưới. Cũng vậy tình yêu đến thật nhiều xuyên qua đau khổ. Con đường đau khổ dẫn đến Thập giá, chính là con đường của ơn gọi tử đạo, con đường của tình yêu. Cũng như thánh Têrêsa hài đồng Giêsu đã viết: “Sống bằng tình yêu không phải là định cư mãi với Chúa Giêsu trên đỉnh núi Tabor giữa những vinh quang sáng chói, nhưng là còn phải trèo lên đỉnh Calvê để ôm nhận Thập giá như một kho tàng”. Sống ơn gọi tử đạo là như thế.
Văn Hào, SDB
https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=pfbid02HPq6eGCZKFW18QgPENUqLx1EkJAkjomREsuHvjEYtBFDBCxFC6GfETvou8NTjE89l&id=100023678942385