TÀI LIỆU THÁNH GIUSE

Ngày đăng: 9:43 AM - 17/03/2023

 

Các Bài Suy Niệm Lễ Thánh Giuse

Lời Chúa: 2Sm 7,4-5.12-14.16; Rm 4,13.16-18.22; Mt 1,16.18-21.24

  1. Đặt tên cho con trẻ – Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.
  2. Thánh Giuse, Người Anh Hùng Thầm Lặng _ Lm Giuse Nguyễn Hữu An.
  3. Người công chính – Lm. G.B. Trần Văn Hào SDB..
  4. Thánh Giuse – Người gia trưởng gương mẫu _ Lm.Jos Tạ duy Tuyền.
  5. Thánh Giuse Bạn Hiền Trinh Nữ, Cha nuôi Hài Đồng Giêsu – Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ.
  6. Suy niệm lễ Thánh Giuse – Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt
  7. Suy Niệm Lễ Thánh Giuse- Gm. Bùi Tuần.
  8. Tìm Sống Ý Chúa – Lm. Jos. DĐH.
  9. Công chính và khiêm nhu – Trầm Thiên Thu. 
  10. Những nẻo đường không bao giờ nghĩ tới – Lm. Giuse Ngô Mạnh Điệp.
  11. Trở nên công chính nhờ biết thực thi ý Chúa – Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.
  12. Thánh Giuse là gương mẫu cho các gia trưởng – Lm. Anthony Trung Thành
  13. Thánh Giuse Bạn Trăm Năm Đức Trinh Nữ Maria –  Lm Giuse Nguyễn Hữu An
  14. Thánh Giuse Người Cha Tuyệt Vời  – Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển.

 

Tin là mở mắt ra để nhìn.
Tin là mở tai ra để nghe.
Tin là mở trí khôn ra để tiếp nhận chân lý,
Và tin là mở con tim ra để tiếp nhận điều mỹ, điều thiện.

Vâng, đức tin là một phần căn bản trong đời sống thiêng liêng của chúng ta, không có đức tin chúng ta không thể nhận biết Thiên Chúa như lời Thánh Phaolô tông đồ đã nói: “Không có đức tin, thì không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa, vì ai đến gần Thiên Chúa, thì phải tin là có Thiên Chúa và tin Người là Đấng ban phần thưởng cho những ai tìm kiếm Người”.[1]

Phúc Âm khen ngợi Thánh Giuse là người công chính, nghĩa là thánh thiện hoàn toàn, đầy đủ mọi nhân đức. Qua thái độ và hành động của Ngài, chúng ta nhận thấy điểm nổi bật nơi Thánh Giuse là nét đẹp của đức tin. Tại sao vậy? Thưa, thiên thần đã hiện đến với Thánh Giuse bốn lần trong giấc mộng:

  • Lần thứ nhất: thiên thần hiện đến trong lúc Ngài đang bối rối nghi nan, để bảo cho biết: “Thai Nhi nơi Mẹ Maria là do tự Thánh Linh” (Mt 1,20). Nói cách cụ thể là Đức Mẹ đã cưu mang mà không có sự can thiệp của người phàm. Xưa có bao giờ nghe chuyện đó? Thật là khó tin, nhưng Thánh Giuse đã tin và đã thi hành điều Ngài đã tin. Phúc âm kể tiếp: “Thức dậy, Giuse đã làm như thiên thần truyền, và Ngài đã rước Đức Mẹ về nhà mình” (Mt 1,24).
  • Lần thứ hai: Thiên thần đến bảo đem Hài Nhi và Mẹ trốn qua Ai cập, kẻo Hêrôđê lùng giết. Giuse không thắc mắc: “Làm sao Con Chúa lại phải thua chạy trước kẻ thù? (Mt 2,13), nhưng đã tin và thi hành.
  • Lần thứ ba và bốn là bảo trở về Nazareth, vì những kẻ tìm hại tính mạng Hài Nhi đã chết (Mt 2,20).

Tất cả các lần báo mộng, Thánh Giuse đã tin lời thiên sứ và tức tốc thi hành. Bảo đi thì đi, bảo về thì về. Đúng thời giờ, đúng địa điểm, không do dự, không thắc mắc nghi nan.

Cũng như Mẹ Maria, Thánh Giuse đã trải qua đêm tối của đức tin. Ngài đã kinh ngạc khi nghe các điều Simeon nói về Con trẻ. Tại đền thánh, Thánh Giuse cũng không hiểu những điều Con nói với mình. Cứ bề ngoài mà xét, Hài Đồng Giêsu cũng bình thường như bao trẻ em khác. Ngót 30 năm chung sống, Ngài chẳng thấy gì khác lạ. Giả có phải người kém đức tin thì Thánh Giuse đã có thể ghi ngờ, hoặc tưởng mình đang chiêm bao, nhưng Ngài đã tin:

  • Tin Hài Nhi đích thật là Đấng Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta (Mt 1,23). Cho dù gặp muôn vàn thử thách, ngài vẫn vững tin: Con trẻ đó chính là Đấng Cứu Thế.
  • Tin Thiên Chúa thương yêu Ngài một cách hết sức đặc biệt. Ngài biết tình thương đặc biệt Chúa dành cho Ngài là hoàn toàn nhưng không, chứ không phải do công phúc của Ngài làm nên.
  • Tin vào sứ vụ Chúa giao phó cho Ngài vô cùng lớn lao là bảo vệ Đức Maria và Chúa Giêsu. Một niềm tin đầy khiêm tốn, với nhận thức sâu sắc về tình trạng khó nghèo, bất xứng của mình, đây là một sự thinh lặng đáng kính phục. Phải có đức tin vững vàng và đầy khôn ngoan sáng suốt mới có thể bảo vệ Đức Mẹ và Chúa Giêsu trong hoàn cảnh đầy khó khăn và nặng nề vào thời đó. Chúng ta có thể gọi đây là nét đẹp của vâng phục đức tin.

Quả thật, chúng ta thiết nghĩ Thánh Giuse đã có nét đẹp của đức tin, và đã vâng phục đức tin đó trong thinh lặng, vì Ngài tin rằng: sứ mạng Chúa trao phó không phải là loan báo mà là bảo vệ và giữ kín.

Vậy, để có nét đẹp của đức tin, mỗi người chúng ta phải làm gì? Trước hết:

  • Sống đức tin giữa đời thường: Tức là tin rằng Thiên Chúa luôn ở cùng chúng ta trong mọi biến cố của cuộc đời.
  • Sống đức tin thương hiệu: để hướng tới một tình yêu hoàn hảo với Đức Kitô theo đà tiến của khoa học kỹ thuật hiện nay, người tín hữu cũng phải có một đức tin “thương hiệu”, cần có một đức tin tuyệt vời… với Đức Kitô trong cuộc sống hằng ngày. Chúng ta phải “tăng lương” cho Chúa, tức là phải yêu Chúa, tin Chúa hôm nay hơn hôm qua. Chúng ta không thể yêu Chúa, tin Chúa bằng một tình yêu tầm thường, một đức tin cằn cỗi trong một thế giới quá tiến bộ về mọi mặt như hôm nay. Phải chăng đây là một niềm khao khát mà mỗi người Kitô hữu quan tâm?
  • Sống đức tin kiên vững: đứng trước một xã hội đang bị tục hóa, đang đánh mất hết tình thương giữa con người với nhau, và dần dần đánh mất niềm tin cội rễ của mình. Sống niềm tin, làm chứng nhân cho tình yêu Thập Giá đang là vấn đề cần thiết của con người thời đại. Vì, đức tin thực hành mới là đức tin đem lại sự sống đời đời cho chúng ta. Đức tin thực hành là đức tin thắng vượt được mọi thử thách. Nhờ đức tin kiên vững vào Chúa chúng ta sẽ không bị cuốn hút vào những chuyện hoang đường, những tiểu thuyết sai lạc về Kitô giáo, nhưng sống đức tin xác quyết như Thánh Giuse đã làm gương cho chúng ta.

Nữ tu Cecilia Thanh Hương
Hội dòng Mến Thánh Giá Gò Vấp

Nét Đẹp Khiêm Tốn Nơi Cha Thánh Giuse

Khiêm tốn là con đường cần thiết để tiến tới một tình yêu hoàn hảo.[1] Thánh Augustino nhận định rằng: “Không có khiêm tốn, con người có khả năng phạm tất cả các tội”.[2]

Sự hoàn hảo cốt ở trong tình yêu Thiên Chúa và tha nhân, nhưng con đường dẫn đến hoàn thiện lại là sự khiêm tốn.[3]

Sự khiêm tốn còn là một nhân đức.[4] Thánh Bernarđô nhận định rằng: “Nhờ có nhân đức khiêm tốn mỗi người thấy được giá trị của nó, sau khi họ nhận biết được chân lý trước mặt Thiên Chúa”.[5]

Khiêm tốn không những là một nhân đức, mà còn đem đến cho con người được sự bình an đích thực qua việc học hỏi đức khiêm nhường của Chúa:

“Học với Chúa hiền từ khiêm nhượng,
Tâm hồn ta sẽ hưởng bình an.
Bởi vì ách Chúa nhẹ nhàng,
Gánh Ngài êm ái nhẹ nhàng biết bao”.[6]

Nếu mỗi người lương thiện nhận biết được sự nghèo nàn về đời sống tâm linh của mình, thì họ có thể cũng nghĩ đến tha nhân đang đi tìm chính những điều đó, vì vậy, họ sẽ được thúc đẩy đi trợ giúp những người đó. Vậy, khiêm tốn trở thành người hướng dẫn hoàn hảo tình yêu của Thiên Chúa và tha nhân.

Đứng trước xã hội hôm nay, để đi vào con đường khiêm tốn xem ra là một điều khó thực hiện được. Tuy nhiên, là thành viên của hiệp hội MTG Tại thế, chúng ta có thể mạnh dạn tiến bước vào con đường này trong tình yêu và sức mạnh của Chúa Kitô Chịu-Đóng-Đinh. Bởi vì: con đường khiêm tốn là con đường của Tình Yêu.[7]

Người ta chỉ thực sự hạ mình xuống khi tha thiết yêu thương một con người: hạ mình xuống để say mê, để cảm phục, để đi theo, để bám lấy và để dâng hiến tất cả đời mình cho một tình yêu.[8]

Con đường khiêm tốn cũng là con đường của tinh thần nghèo khó. Kẻ ham muốn giàu có, ngay cả sự giàu có tinh thần, không thể bước vào con đường này. Chỉ thực sự nghèo khó trong tâm hồn khi chúng ta không còn tìm kiếm, mong mỏi, đòi hỏi và chiếm giữ cho bản thân mình một điều gì khác, mà hoàn toàn phó thác để cho Thiên Chúa định liệu mọi sự về mình.[9]

Vâng, chúng ta thấy Thánh Giuse là người sống rất khiêm tốn:

  • Khiêm tốn nhận ra vị trí của mình đối với Đức Mẹ và Chúa Giêsu, trong vai trò làm chồng của Đức Mẹ và người bảo trợ Con Thiên Chúa.
  • Khiêm tốn chấp nhận mình là đầy tớ vô dụng, để góp phần vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Ngài như một nền nhà kiên cố thầm lặng chôn dưới lòng đất, để cho tòa nhà vĩ đại là Chúa Giêsu và Đức Maria nổi bật giữa phong ba sóng gió cuộc đời.

Quả thật, khiêm tốn là hoa trái của sự công chính, vì:

  • Nếu không có sự khiêm tốn, Thánh Giuse sẽ oán trách Thiên Chúa sao để Đấng cứu thế lại sinh ra trong hang đá Belem nghèo hèn không một mảnh vải che thân.
  • Nếu không có sự khiêm tốn, Thánh Giuse sẽ trở nên kiêu căng khi thấy các thiên thần từ trời xuống ca hát chúc vinh, các mục đồng và các hiền sĩ phương đông đến thờ lạy Đấng cứu thế trong máng cỏ tồi tàn.
  • Nếu không có sự khiêm tốn, Thánh Giuse sẽ than trách Thiên Chúa sao nỡ tàn sát với trẻ sơ sinh và gia đình mình khi bị người đời ghét bỏ tìm giết.

Tất cả những điều ở trên cho chúng ta thấy nếu không có một sự khiêm tốn thẳm sâu và nhờ ơn Chúa giúp, Thánh Giuse sẽ hành động theo cách suy nghĩ của con người trần gian: giận dữ và buông xuôi.

Vậy, đâu là bài học cho chúng ta về nét đẹp khiêm tốn nơi Thánh Giuse? Trước hết,

  • Không tìm cách tỏ ra ta đây tài giỏi, đạo đức hơn người.
  • Không oán trách Thiên Chúa khi bị thử thách và hiểu lầm.
  • Không tự ti mặc cảm về những tài năng Chúa ban để sử dụng theo thánh ý Chúa.
  • Biết nhìn nhận con người hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa và mọi người đều là thụ tạo bình đẳng với nhau.
  • Biết đánh giá đúng về vị trí của mình trong tương quan với Thiên Chúa và tha nhân.

Nữ tu Cecilia Thanh Hương
Hội dòng Mến Thánh Giá Gò Vấp

Tìm Chúa Trong Thánh Giuse

Thánh gia
Nhà thờ Convento de Capuchinos (Iglesia Santo Anchel),
Cordoba, Tây ban Nha, Thế kỷ XVIII

 TÌM CHÚA TRONG THÁNH GIUSE

 Thánh Giuse không gây chú ý về mình. Ngài lắng nghe và hành động, nêu gương cho người môn đệ phải như thế nào: một người nghe “lời Chúa và đem ra thực hành” (Lc 8, 21). Bất cứ khi nào hướng về Thánh Giuse, ta đều được ngài dẫn dắt để khám phá ra Thiên Chúa của ngài và sứ mệnh linh thiêng mà ngài phục vụ.
“Kinh Cầu Thánh Giuse” dẫn ta vào con đường chiêm niệm. Ta chiêm ngắm các danh hiệu và vinh dự của Thánh Giuse, chồng của Đức Maria và là cha nuôi của Đức Giêsu. Gặp gỡ Thánh Giuse qua từng danh hiệu để ngài đưa ta đến với các mầu nhiệm cứu rỗi.
Hai danh hiệu sau đây của Thánh Giuse sẽ gợi cảm hứng cho ta cầu nguyện với vị thánh cả này, người lúc nào cũng vâng nghe lời Chúa và hành động.
Đấng thanh sạch giữ gìn Đức Nữ đồng trinh.
Với đức hạnh vững vàng, Thánh Giuse đã giữ gìn đức hạnh của vợ mình. Không có lối tắt nào dẫn đến sự nguyên tuyền. Chỉ có sự thực hành thường xuyên và trước sau như một trong sự kính trọng và tôn kính vô biên mới mang lại điều đó. Thánh Giuse không chỉ kính trọng và tôn kính trinh tiết của vợ mình, ông còn kính trọng và tôn kính tiết hạnh của chính mình, bởi vì ngài là người đã dâng cả trái tim mình cho Chúa.
Ngài là người đầu tiên tuyên xưng điều mà viên đội trưởng sau này đã tuyên bố: “Lạy Chúa, tôi chẳng đáng Chúa vào nhà tôi” (Mt 8, 8). Thánh Giuse là mái nhà mà cả Con Thiên Chúa và Đức Trinh Nữ đến cư ngụ. Ngài biết rõ rằng đây là một vinh dự và nghĩa vụ mà mình không xứng đáng. Ngài đòi buộc phải có đức hạnh vượt quá những gì mình có nếu muốn xây dựng một nơi ở phù hợp cho những quý nhân như vậy.
Thánh Giuse không tìm nơi nào khác để nhận được những gì mình còn thiếu ngoài Thiên Chúa, Đấng mà ngài luôn mau mắn đáp trả, sẵn sàng làm theo ý Ngài. Thánh Giuse không đánh giá bản thân quá cao và cũng không xem nhẹ Thiên Chúa. Trong khiêm nhường, ngài thú nhận những gì mình còn thiếu sót và đón nhận những gì mình cần. Yêu thích tính khiêm nhường của tôi tớ mình, Thiên Chúa đã ban cho tôi tớ Ngài những gì cần thiết để đáp ứng ơn gọi linh thiêng này.
Đây là cách xây dựng ngôi nhà của Thánh Giuse. Nó được xây dựng bằng sự khiêm tốn và chấp nhận dịu dàng. Đó là ngôi nhà của nhân đức và ân sủng. Ngài không rảo mắt nhìn quanh để xem mình có được lợi ích gì khi làm theo thiết kế của ai đó. Ngài không rời mắt khỏi gia đình được giao phó cho mình để thỏa mãn mình bằng những điều khác có thể. Ngài vẫn khiêm tốn, thú nhận những giới hạn và lỗi lầm của mình, sẵn sàng đón nhận điều Chúa ban và thi hành những gì Chúa truyền dạy.
Thánh Giuse không tìm kiếm cung vàng điện ngọc, nhưng Thiên Chúa đã biến nhà ngài thành nơi ở của một vị Vua. Thánh Giuse gọi Vua của mình là “con,” và triều đại được chúc lành của Thiên Chúa trước hết được bày tỏ qua sự kính trọng và tôn kính mà Thánh Giuse cư xử với Người Mẹ của Vua. Sự kính trọng này- sự tôn kính này – bắt nguồn từ sự kính trọng và tôn kính mà Thánh Giuse đã luôn kiên vững trước mặt Thiên Chúa, với tư cách là tôi tớ và là người bảo vệ. Thánh Giuse đủ khiêm hạ để phục vụ song cũng đủ dũng cảm để chỉ huy vương quốc đầu tiên trên trần thế của vị Vua muôn đời.
Gia đình của Thánh Giuse đã tạo ra những môi trường nuôi dưỡng lòng sùng kính đặc biệt đối với Thiên Chúa. Những môi trường bao quanh và bảo vệ Đức Trinh Nữ. Những môi trường này làm hài lòng hoa trái được chúc phúc và vương giả trong lòng dạ Đức Trinh Nữ. Những điều kiện này làm tăng thêm vẻ huy hoàng của Thánh Giuse, người được Chúa tán dương tính khiêm nhường, coi trọng sự giản dị, và sự vững vàng của ngài được Chúa trân trọng như một phản ánh cho phong cách thần thánh của chính Ngài.
Đấng ân cần gìn giữ Chúa Kitô
Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một dấu yêu của Ngài. Nhưng thế gian không yêu mến Thiên Chúa. Đức Kitô là ánh sáng song “con người yêu thích bóng tối hơn ánh sáng, vì hành vi của họ xấu xa” (Ga 3, 19). Đức Giêsu đã dễ bị tổn thương ngay từ đầu.
Trong nhà thờ vào ban đêm, ngọn lửa nhỏ và tĩnh lặng của ngọn đèn chầu nhà tạm soi sáng bóng tối. Ngọn lửa ấy, dù mạnh mẽ, cũng phải được gìn giữ kẻo gió lùa thổi tắt đi và bóng tối lan rộng ra. Đối với Con Thiên Chúa cũng vậy, mặc dù có quyền năng trên trời dưới đất, nhưng phải chịu trải qua thời thơ ấu, tuổi thơ, sự nghèo khó và những cơn gió phất phơ của tâm hồn con người. Nhiệm vụ cứu rỗi của Ngài không phải là dùng quyền lực để áp đảo quyền lực mà phải gánh chịu hậu quả của việc lạm dụng quyền lực của những kẻ không yêu mến Thiên Chúa, Đấng yêu thương thế gian. Khi đến hạn thời gian, Đức Kitô sẽ để mình bị dập tắt, đi vào bóng tối của nấm mộ, nơi Ngài sẽ thắp lại ngọn đèn vĩnh cửu.
Khi còn ở thế gian và trong tình trạng dễ bị tổn thương nhất – là một đứa trẻ sơ sinh, một em bé – Đức Giêsu Kitô cậy nhờ sự gìn giữ của một người không ghét Thiên Chúa nhưng phụng sự Ngài bằng cả đức tin. Thánh Giuse là người gìn giữ đó, người chăm sóc ngọn đèn cung thánh của hài nhi do Đức Maria sinh hạ.
Thánh Giuse đã che chở cho con trẻ Giêsu khỏi những cơn gió độc bằng chính thân xác mình cũng như bảo vệ ngọn lửa thiêng sẽ thắp cho thế gian bừng sáng lên. Những cơn gió độc đến với Đức Giêsu rất nhanh. Ngay khi Hêrôđê nghe tin về sự ra đời của con trẻ thì cơn ganh tị nổi bùng lên. Mặc dù ông khiêm tốn dịu giọng với các Đạo sĩ đang tìm kiếm vị Vua mới sinh, song ông không thể nén cơn cuồng nộ bên dưới lời nói của mình. Các Đạo sĩ đã được báo không quay lại với Hêrôđê, và ngay khi họ vừa rời khỏi gia đình mình đi thì Thánh Giuse quyết định đưa cả gia đình non trẻ của mình sang Ai Cập. Chẳng phải cảm giác ác ý của Hêrôđê đã chạm đến Thánh Giuse qua chuyến viếng thăm của các Đạo sĩ sao? Qua họ, chắc hẳn ngài đã biết được ngọn lửa thánh đang lâm nguy. Và vì thế khi thiên thần thì thầm vào tai lúc còn đang ngủ thì Thánh Giuse đã sẵn sàng nghe và hành động.
Sự xôn xao lay động của các Đạo sĩ là dấu hiệu của mọi thời; mệnh lệnh rõ ràng của thiên thần là lời mời gọi đức tin. Thánh Giuse đã không chần chừ lần lữa. Ngài lập tức đứng dậy và với lòng đạo đức đặc biệt, bắt đầu che chắn cho Ánh Sáng Thế Gian khỏi bóng tối đang thống lĩnh. Với sự vội vàng, ngài chạy trốn và ác tâm của Hêrôđê không theo đuổi kịp lòng trung thành của Thánh Giuse.
Người gìn giữ trung thành này của Đức Kitô là một vùng đệm hãm lại bóng tối. Dưới sự bảo vệ của ngài, ân sủng của Chúa dành cho thế gian ngày càng lớn lên. Từng đêm, Thánh Giuse luôn gìn giữ, để khi ngọn lửa nhỏ này đủ lớn, nó sẽ bùng qua các cánh cửa cung thánh để trở thành bình minh vĩnh cửu.

Leonard J. DeLorenzo

Thánh Giuse bao nhiêu tuổi khi Chúa Giêsu sinh ra?
Không có mô tả ảnh.
Thánh Giuse là một người góa vợ hay là một thanh niên gầy gò?
Kinh thánh không kể cho chúng ta nghe nhiều về Thánh Giuse. Ngài được Tin mừng mô tả cách đơn giản như là “chồng của Đức Maria”, một người “thợ mộc” (Mt 1,19), và là “người công chính” (Mt 1,19). Tuổi tác và cái chết của ngài cũng không được nói đến. Tuy nhiên, một số truyền thống giúp làm sáng tỏ vấn đề và đưa ra một số điểm có thể nghiên cứu.
Một truyền thống rất phổ biến trong Giáo hội Chính thống cho rằng thánh Giuse đã lớn tuổi khi kết hôn với Đức Trinh nữ Maria. Trước khi về chung nhà với Đức Maria, người vợ trước của ngài đã chết (người đã có nhiều con với Thánh Giuse). Chính điều này đã khiến một số người cho rằng những người này là “anh em” của Chúa Giêsu mà Tin mừng đã nói đến (x.Mt 13,55-56; Mc 3,32).
Dựa vào một bản văn ở thế kỷ thứ VI có tên là “Lịch sử về Giuse người thợ mộc”, truyền thống này cho rằng Thánh Giuse là một người khá lớn tuổi nhưng có sức sống rất trẻ trung. Và dù tuổi của Thánh Giuse đã lớn nhưng cơ thể của ngài không yếu đi, thị lực rất tốt, răng không hư mục, lý trí rất minh mẫn. Ngài như một thanh niên cường tráng và không một chi thể nào mang bệnh tật. Giuse thọ được 110 tuổi.
Mặt khác, các nhà nghiên cứu Kinh thánh và lịch sử tin rằng, Thánh Giuse là một chàng trai trẻ, thậm chí là một thiếu niên. Học viện nghiên cứu Thánh Mẫu quốc tế khẳng định rằng : “chúng tôi tin rằng khi Đức Giêsu sinh ra, Đức Maria và Thánh Giuse đang ở tuổi thiếu niên, khoảng 16 và 18 tuổi. Đây là phong tục dành cho những đôi vợ chồng mới cưới của người Do thái thời đó”.
Chân phước Fulton Sheen chia sẻ về một cảm tưởng tương tự trong tác phẩm Tình Yêu Đầu Tiên Của Thế Giới: “Theo tôi, Thánh Giuse, khi kết hôn với Đức Trinh nữ, ngài là một người đàn ông khá trẻ, mạnh mẽ, rắn chắc, khỏe mạnh, đẹp trai và khiết tịnh; là mẫu mực cho những bậc nam nhi mà thời đại này đang tìm kiếm (…) trong xưởng mộc (…) không phải trong cảnh xế chiều của cuộc đời, nhưng là lúc bình minh, dồi dào năng lực, đầy tràn sức mạnh và đam mê”.
Giả thuyết này liên quan đến hành trình rất dài của gia đình Thánh vào thời điểm Chúa Giêsu chào đời. Chuyến đầu tiên từ Nazareth đến Bêlem và chuyến thứ hai trốn sang Aicập. Thật khó để tưởng tượng được một Giuse già nua chăm sóc Đức Maria và Chúa Giêsu trên một hành trình thật dài đến một đất nước xa lạ.
Bất kể sự thật về tuổi tác như thế nào, Thánh Giuse vẫn là một “người công chính”, đã làm tất cả những gì có thể để bảo vệ và che chở cho Đức Maria và Chúa Giêsu. Ngài đã chăm sóc gia đình mình bằng trái tim yêu thương và yêu cả hai bằng một tình yêu sâu đậm và thủy chung.
Philip Kosloski
G. Võ Tá Hoàng chuyển ngữ
Trường hợp hiện ra duy nhất của Thánh Giuse được Giáo hội công nhận
Vị thánh đã nói chuyện với một người chăn chiên – người Pháp – năm 1660. Ở đó có một con suối và một đền thánh, nơi đã ghi lại các phép lạ và ơn thiêng.
Tại Cotignac, nước Pháp, có một trường hợp duy nhất về sự hiện ra của Thánh Giuse được Giáo hội công nhận.
Vào năm 2021 này, nhân kỷ niệm 150 năm ngày chân phước Piô IX tuyên bố vị thánh bảo trợ của Giáo hội, tưởng cũng nên nhắc lại một số can thiệp phi thường của vị hôn phu của Đức Maria trong lịch sử Giáo hội. Sự kiện này đã xảy ra cách đây 5 thế kỷ.
Người chăn cừu khát nước
Tại làng Cotignac, gần thành phố Toulon, vào ngày 7 tháng 6 năm 1660, có một người tên là Riccard Gaspar, đang chăn cừu trên núi Bessilopn cách làng ba cây số. Chăn thả đàn cừu của mình dưới cái nắng như lửa thiêu làm anh khát nước. Lúc bấy giờ, Riccard Gaspar cầu xin thánh Giuse, người mà anh hết mực sùng kính, và bỗng nhiên một người đàn ông cao lớn xuất hiện chỉ tay vào tảng đá to và nói: “Ta là Thánh Giuse, hãy lật tảng đá đó lên và anh có thể uống nước”.
Anh nhấc hòn đá lên rất dễ dàng
Người chăn cừu nhìn vào tảng đá được Thánh Giuse chỉ cho, dù có đến 10 người cũng không thể nâng nổi nó. Tuy nhiên, nghe lời Thánh Giuse, Riccard Gaspar đã nhấc tảng đá lên dễ dàng và uống say sưa dòng nước tinh khiết mà chưa một ai đã từng được nhìn thấy. Đây là lần hiện ra duy nhất của Thánh Giuse trong Giáo hội. Và đây cũng là những lời duy nhất của Thánh Giuse, vì trong Tin mừng thánh nhân hoàn toàn im lặng.
Dòng suối và những cuộc hành hương đầu tiên
Nhiều đoàn hành hương và rất đông các bệnh nhân kéo đến Cotignac: hầu hết họ trở về nhà đều được chữa lành. Cạnh “con suối của Thánh Giuse”, nơi ngài hiện ra, một nhà nguyện nhỏ được dựng lên và sau đó là một tu viện để trợ giúp các tín hữu tuôn về đó ngày càng đông. Thời kỳ cách mạng Pháp, nhà nguyện và tu viện rơi vào cảnh đổ nát và ở trong tình trạng như vậy trong nhiều năm.
Ơn lành và phép lạ
Sau cuộc chiến, một cộng đoàn các nữ tu dòng Biển Đức từ Algeria đến lập cư tại đây. Tu viện xưa được tân trang và nhà nguyện hoạt động lại thường xuyên với sự trợ giúp của khách hành hương hướng về nơi Thánh Giuse đã nói chuyện để chỉ ra dòng suối kỳ diệu với dòng nước ngọt ngào và tươi mát.
Ngày nay, vẫn còn rất đông khách hành hương về nơi Thánh Giuse đã hiện ra, và vì dòng suối nhắc nhớ đến dòng nước kỳ diệu ở Lộ Đức, nơi các ơn thánh ngày càng được nhân lên.
Văn khố của dòng Tận Hiến cho Đức Maria (Oblates of Mary), nơi chăm nom đền thánh, liệt kê rất nhiều “phép lạ” được cho là xuất phát từ dòng nước kỳ diệu ấy.
Vương cung thánh đường lớn nhất thế giới dành riêng cho Thánh Giuse
Nếu Cotignac là vị trí biểu trưng cho sự hiện ra của Thánh Giuse thì có một nơi khác tôn vinh quyền năng của vị thánh.
Thánh André Bessette khuyến khích lòng sùng kính Thánh Cả Giuse. Với những người đã được chữa lành, ngài nói: “Chính Thánh Giuse làm phép lạ, không phải tôi. Tôi chỉ là con chó nhỏ của thánh nhân”. Tên tuổi của thánh André Bessette gắn liền với Oratoire, một vương cung thánh đường lớn nhất thế giới dành riêng cho Thánh Giuse ở Montréal (Canada).
Hai triệu du khách
Mỗi năm có ít nhất hai triệu du khách bước lên tòa nhà này để được nghe tiếng gọi thiêng liêng giữa những bức tường thánh và để khám phá diện mạo của đấng sáng lập, người gác đền đơn sơ của học viện Notre Dame. Một nhà nguyện nhỏ được khởi công xây dựng vào năm 1904. Vào năm 1917 nhà thờ thực sự được xây dựng với một tầng hầm có sức chứa lên đến 1000 chỗ ngồi. Để làm được điều đó, ngài đã gây quỹ trong nhiều năm và thậm chí bán cả tóc của mình cho các sinh viên.
Cao 97 mét
Vương cung thánh đường trên được xây dựng vào năm 1955 và hoàn thành vào năm 1967. Với sức chứa 3000 chỗ ngồi và 10.000 chỗ đứng, bên trong dài 105 mét, rộng 65 mét và cao 60 mét. Chiều cao tính từ chân đến đỉnh thánh giá là 97 mét.
Vào ngày “con chó nhỏ của Thánh Giuse” yên nghỉ, hàng triệu người đã bày tỏ lòng kính mến bằng cách diễu hành quanh quan tài của ngài cả ngày lẫn đêm. Qua cuộc đời và những lời khuyên đầy khiêm tốn của mình, thánh André Bessette đã trình bày cho toàn thế giới thấy được sự tốt lành và sức mạnh của lời cầu bầu của Thánh Cả Giuse.
Tác giả bài viết: Giuse Võ Tá Hoàng chuyển ngữ
Thánh Giuse
Theo sử sách, Thánh Giuse sinh tại Belem năm 90 trước Công Nguyên, và qua đời ngày 20 tháng 7 năm 18 sau Công Nguyên.1 Ngài được tôn kính trong các giáo hội Công Giáo, Anh Giáo, Chính Thống Nguyên Thủy, Chính Thống Đông Phương và Tin Lành. Lễ kính ngày 19 tháng 3 với tước hiệu Giuse Bạn Đức Maria, và ngày 1 tháng 5 với tước hiệu Giuse Thợ. Ngài được tôn nhận là quan thầy của các giáo hội Croatia, Đại Hàn, Việt Nam và nhiều giáo hội địa phương khác. Đặc biệt, Ngài được Đức Giáo Hoàng Piô IX vào năm 1870 tôn nhận là Bổn Mạng Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ. Khởi đi từ sự phát triển và nghiên cứu về Thánh Mẫu Học, từ năm 1950, Khoa Giuse Học cũng được khai mở và nghiên cứu rộng rãi. 2,3
Thánh Giuse là người được nhắc đến trong Phúc Âm là chồng (phu quân) của Đức Maria, mẹ của Chúa Giêsu. Trong truyền thống tôn kính của Kitô giáo, Thánh Giuse được tôn kính như người cha của Chúa Giêsu.
Giuse Trong Tân Ước
Các thư của Thánh Phaolô là những tài liệu Kitô giáo được viết ra trước nhất. Tuy có nói đến mẹ của Chúa Giêsu, nhưng không nêu rõ tên gọi, cũng như không nhắc đến cha của Ngài – mà chỉ nói đến Thiên Chúa là cha Ngài (x. Roma 15:26 etc.). Tin Mừng được cho là viết đầu tiên của Máccô cũng không nói ai là cha của Chúa Giêsu. Tên Giuse chỉ xuất hiện trong Tin Mừng của Mátthêu và Luca sau đó. Ngoài ra, Luca còn cho biết tên cha của Giuse là Heli, và trong Mátthêu, cha của Ngài là Giacóp, một tên gọi xuất hiện song song trong Cựu Ước. Điều này diễn tả Chúa Giêsu như Maisen mới, và việc Ngài sinh tại Belem, như Đấng Cứu Thế được hứa ban, xuất hiện từ dòng dõi Đavít.
Để giải thích tại sao Chúa Giêsu quê quán Nazareth nhưng lại sinh ra tại Belem, các thánh ký đã nhắc đến việc Giuse vâng lời sứ thần kết hôn với Maria, sau đó đưa Maria đang có thai trở về Belem quê quán, và ở đó Maria đã sinh hạ Chúa Giêsu. Thời gian Giuse lưu lại Giêrusalem sau ngày Chúa Giêsu hạ sinh là bao lâu thì không được biết chắc chắn, có thể là hai năm tính đến khi ba nhà đạo sỹ đến bái lậy Chúa Hài Đồng.4 Sau biến cố này, Giuse được lệnh thiên thần đem Maria và trẻ Giêsu sang Ai Cập để trốn thoát cuộc truy lùng của Hêrôđê. Nhưng sau khi Hêrôđê qua đời, ông lại được lệnh trở về quê hương. Để tránh sự dòm ngó của vị vua mới, Giuse đã đem gia đình về lại Nazareth thuộc xứ Galilêa và định cư tại đó.
Như vậy, theo Tin Mừng của Mátthêu, trẻ Giêsu giống như Maisen trong cơn lùng bắt của bạo chúa, cũng có tổ tiên mang tên Giuse, người đã bị anh em bán sang Ai Cập. Như Giuse trong Cựu Ước, Giuse của Tân Ước cũng có cha tên là Giacóp. Cả hai đều đã nhận được những mộng báo quan trọng nói về tương lại của mình.
Nhưng trong Tin Mừng của Luca, Giuse sống tại Nazareth và Giêsu thì được sinh ra ở Belem, bởi vì Giuse và Maria đã từ Nazareth trở về nguyên quán theo lệnh kiểm tra dân số, vì Giuse thuộc tôn thất vua Đavít. Sau này trong Tin Mừng đã gọi Ngài là con Vua Đavít: “Lạy Giêsu con Vua Đavít xin thương xót tôi” (Luca 18:38). Tuy nhiên, Luca không nói đến việc các thiên thần và những giấc mộng, cũng không nhắc đến Cuộc Sát Hại các Hài Nhi, hoặc việc trốn sang Ai Cập của Thánh Gia.
Lần sau cùng Giuse xuất hiện bằng xương, bằng thịt được ghi lại trong Phúc Âm là câu truyện Lễ Vượt Qua tại Đền Thờ Giêrusalem khi Chúa Giêsu lên 12 tuổi. Biến cố này được tìm thấy trong Tin Mừng của Luca. Sau đó Giuse không được nhắc đến nữa.5 Nó nhấn mạnh việc Chúa Giêsu biết rõ về sứ mạng đang đến của mình, vì ở đây Ngài nói với cha mẹ mình Giuse và Maria từ “cha tôi” mang ý nghĩa Chúa Cha, nhưng cả hai đã không hiểu (Luca 2:41-51).
Truyền thống Kitô giáo nói đến Maria như một góa phụ qua hành trình sứ vụ của con mình. Giuse không được nhắc đến trong Tiệc Cưới Cana ở đầu sứ vụ của Chúa Giêsu, và cũng không thấy xuất hiện ở cuối cuộc Thương Khó của Ngài. Nếu hiện diện trong cuộc Khổ Nạn, theo phong tục Do Thái, Giuse phải có trách nhiệm lo an táng cho Chúa Giêsu, ngược lại, người làm việc này là Giuse thành Arimathea. Và Chúa Giêsu cũng không phải trối mẹ mình lại cho môn đệ Gioan, nếu như người chồng của mẹ còn sống.
Tuy không có Phúc Âm nào nhắc đến Giuse trong sứ vụ rao giảng của Chúa Giêsu, nhưng các Phúc Âm chia sẻ cùng một ý tưởng. Đó là, người dân Nazareth, quê hương của Chúa Giêsu, đã nghi ngờ về tư cách tiên tri của Ngài, vì họ biết gia đình Ngài. Họ gọi Chúa Giêsu là “con bà Maria” (Máccô 6:3) thay vì nhắc đến cha của Ngài. Còn trong Tin Mừng của Mátthêu dân thành gọi Chúa Giêsu “con ông phó mộc”, và cũng không nhắc đến tên cha của Ngài (Mátthêu 13:53-55), mặc dù từ “ông phó mộc” ám chỉ về nghề nghiệp của Giuse. Trong Luca 3:23 viết “Và Giêsu khoảng 30 tuổi, là (coi như) con của Giuse, người là con của Heli.” Luca đã nói đến Giuse có vẻ chắc chắn, rõ ràng (Luca 4:16-30), trong khi Máccô và Mátthêu thì không xác quyết. So sánh giữa Luca, Máccô và Mátthêu không thấy trong Tin Mừng của Gioan, nhưng trong câu truyện tương tự giữa những người hàng xóm không tin tưởng, Gioan nói rõ, Giuse là cha của Chúa Giêsu: “Giêsu con ông Giuse, mà cha mẹ của ngài chúng tôi biết.” (Gioan 6:41-51)
Hình Ảnh Giuse Trong Tân Ước
Thứ Tự Biến Cố Mátthêu Máccô Luca Gioan
1 Giuse sống ở Nazareth Luke 2:4
2 Gia phả Chúa Giêsu Matthew 1:1-17 Solomon – Jacob Luke 3:23 Nathan – Heli
3 Giuse hứa hôn với Maria Matthew 1:18
4 Thiên thần hiện ra lần 1 Matthew 1:20-21
5 Giuse và Maria về Belem Luke 2:8-15
6 Chúa Giêsu giáng sinh Matthew 1:25 Luke 2:6-7
7 Dâng Chúa vào Đền Thờ Luke 2:22-24
8 Thiên thần hiện ra lần 2 báo mộng Matthew 2:13
9 Trốn qua Ai Cập Matthew 2:14-15
10 Thiên thần báo mộng lần 3 bảo Giuse trở lại Nazareth Matthew 2:19-20
11 Giuse và gia đình về Nazareth Matthew 2:21-23 Luke 2:39
12 Tìm thấy Giêsu trong Đền Thờ Luke 2:41-51
13 Thánh Gia John 6:41-42
Người Cha Của Giêsu
Giuse như người cha của Giêsu xuất hiện trong Tin Mừng của Luca và trong một “lối đọc khác” của Mátthêu. Mátthêu và Luca cả hai đều nói về gia phả của Chúa Giêsu cho thấy tổ tiên nguồn gốc từ Vua Đavít. Mátthêu đối chiếu theo hoàng tộc dòng Salômôn, trong khi Luca đi theo một dòng khác bắt đầu từ Nathan, một người con khác của Đavít và Bà Bathsheba. Hậu quả là những tên giữa Đavít và Giuse đều khác nhau. Theo Mátthêu “Giacóp sinh Giuse, chồng của Maria” (Mátthêu 1:16), trong khi đó Luca viết Giuse là con của Heli (Luca 3:23). Một số học giả khi giải thích các gia phả này cho rằng dòng Solômôn trong Mátthêu ở đó Giuse thuộc hoàng tộc chính, và dòng Nathan trong Luca, ở đó Maria thuộc dòng phụ. Gia phả theo Mátthêu kể Giuse theo luật dựa vào luật Do Thái, trong khi gia phả của Luca xét từ thể lý của dòng tộc Maria.6, 7
Sinh Kế Của Giuse
Trong các Tin Mừng, Giuse được gọi là “tekton” (τέκτων). Từ tekton theo truyền thống được dịch qua Anh ngữ là “carpenter” (thợ mộc). Một cách tổng quát, đây cũng được coi như một nghề chế tạo các vật dụng khác nhau.8 Nhưng nghề thợ mộc được xem như gần gũi hơn với truyền thống Kitô giáo xa xưa khi nghĩ về Giuse. Justin Martyr (qua đời năm 165) đã viết rằng Chúa Giêsu đã làm những cái ách và những chiếc cày, những chiếc bừa. 9 Nhiều học giả đồng ý từ tekton có cùng nghĩa với người thợ thủ công về đồ gỗ, kim loại. Geza Vermes đã cho rằng từ “thợ mộc” và “con ông thợ mộc” dùng trong ngôn ngữ Do Thái xác định Giuse là một người thợ mộc. 10
Trở lại lịch sử, trong thời của Giuse, Nazareth là một làng quê hẻo lánh thuộc Galilêa, cách Giêrusalem khoảng 65 Km, và ít được nhắc đến trong những sách vở và tài liệu ngoài Kitô giáo. Vì phương tiện sống và điều kiện xây cất, làng này ước tính chỉ khoảng 400 người.11 Tuy nhiên, khoảng 6 Km từ thành Tzippori (“Sepphoris” cổ) bị tàn phá bởi quân Roma năm 4 BC, và sau đó được tái thiết 12 . Căn cứ vào đó, người ta có thể đoán rằng Giuse sống gần đó và cả Chúa Giêsu sau này đã đi đi, về về từ Nazareth đến Tzippori để làm công tại đây. Một số học giả khác lại coi Giuse và Chúa Giêsu là những nghệ nhân chuyên về những công việc chế tạo gỗ, kim loại và đá.
Trong Tầm Nhìn Hiện Tại
Tên Giuse xuất hiện trong Thánh Kinh, dòng dõi, sinh kế, và đời sống cũng đã được nhắc đến. Ngài là người “công chính”. Chúa Giêsu sinh ra được Giuse nuôi nấng, bao bọc, dạy dỗ, hướng dẫn và thương yêu mặc dù Ngài không phải là cha thể lý của Giêsu. Tuy nhiên khi Thánh Kinh nói đến anh em của Chúa Giêsu, đã nảy sinh những tranh cãi liên quan đến Giuse và mẹ Ngài là Maria. Câu hỏi được nêu lên: “Anh em Chúa Giêsu là ai?”
Chính Thống Giáo Đông Phương thì cho rằng Giuse đã có con với người vợ trước là Salome, và khi ông hứa hôn nhưng chưa cưới Maria lúc đó ông là người góa vợ. Anh em của Chúa Giêsu được nhắc đến, do đó, là con của người vợ này.13 Những người Tin Lành thì cho rằng, với những người anh em này, Đức Maria đồng trinh nhưng không trọn đời đồng trinh. Mẹ chỉ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu mà thôi. Nhưng truyền thống Công Giáo, theo Thánh Giêrônimô, tuy Giuse chính thức là chồng của Maria, những người anh em của Chúa Giêsu được nhắc đến trong Tin Mừng là anh chị em họ. Giáo lý Công Giáo về sự Đồng Trinh Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Maria dậy rằng, tuy là vợ chồng theo luật pháp, nhưng Giuse và Maria đã sống đời đồng trinh. Từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ thứ 5 nhiều học giả cũng đã tranh luận với nhau và tìm cách giải thích tại sao Chúa Giêsu vừa là con Thiên Chúa và vừa là con của Giuse.14
Lòng Sùng Kính
Những tài liệu đầu tiên đã cho biết việc sùng kính Thánh Giuse bắt đầu từ năm 800 và xem Ngài như nutritor Domini (người giáo dục/săn sóc của Thiên Chúa) bắt đầu từ thế kỷ thứ 9 và tiếp tục phổ biến đến thế kỷ 14. Thánh Tôma Aquinas cắt nghĩa về sự cần thiết của Thánh Giuse trong chương trình Mang Thai của Đức Maria. Theo đó, người Do Thái sẽ ném đá chết Maria nếu không kết hôn, và vì thế, Chúa Giêsu cần được nuôi dưỡng, săn sóc, và bảo vệ của một người cha. 15, 16
Thế kỷ thứ 15, lòng sùng mộ chuyển sang những bước quan trọng khác được bắt đầu bởi Thánh Bênađô thành Siena, Pierre d’Ailly, và Jean Gerson.17 Gerson viết tác phẩm Consideration sur Saint Joseph và giảng về Thánh Giuse tại Công Đồng Constance. Năm 1889, Đức Giáo Hoàng Leô XIII đã viết thông điệp Quamquam pluries, thúc đẩy người Công Giáo cầu xin cùng Thánh Giuse như Đấng Bảo Trợ Giáo Hội trong hiện tình những thách đố Giáo Hội đang gặp phải.18
Giuse Học Thuyết, khảo cứu về thần học Thánh Giuse, là một trong những tư tưởng thần học hiện đại.19 Năm 1989, nhân dịp kỷ niệm 100 năm thông điệp Quamquam pluries của Đức Thánh Cha Leô XIII, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã ra thông điệp Redemptoris Custos (Guardian of the Redeemer) trong đó giới thiệu vai trò Thánh Giuse trong chương trình cứu độ. 20
Cùng với Đức Trinh Nữ Maria và Hài Nhi Giêsu, Giuse là một trong ba người trong gia đình Nazareth. Việc tôn kính Thánh Gia bắt đầu từ thế kỷ thứ 17 và được khởi xướng do Phanxicô de Laval.
Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII đã truyền ghi tên Giuse vào Sách Lễ Công Giáo. Và Đức Giáo Hoàng Phanxicô lại truyền thêm tên Ngài vào Kinh Nguyện Thánh Thể. 21
Năm 1870, Đức Giáo Hoàng Piô IX tuyên bố Thánh Giuse là Quan Thầy Giáo Hội, và tuần bát nhận được bắt đầu vào thứ Tư trong tuần lễ thứ hai sau Phục Sinh để tôn kính Ngài. Sau này Đức Giáo Hoàng Piô XII, trong năm 1955 đã thiết lập lễ Thánh Giuse Thợ được cử hành vào ngày 1 tháng Năm. Đây cũng là ngày Quốc Tế Lao Động, tôn vinh Thánh Giuse như quan thầy những người lao động. Ngài được coi như con người điềm tĩnh, nhẫn nhục, can trường, và chăm chỉ.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong dịp kỷ niệm 150 năm Thánh Giuse được tuyên xưng là Quan Thầy Giáo Hội, qua Tông Thư “Patris corde” (Trái Tim Người Cha), ngài đã công bố Năm Thánh Giuse kể từ 8 tháng 12, 2020 đến 8 tháng 12 năm 2021, và đã dọn một kinh nguyện:
Kinh Kính Thánh Giuse (Trong Năm Thánh Giuse)
Kính chào Đấng Gìn Giữ Chúa Cứu Thế,
Bạn Trăm Năm của Đức Trinh Nữ Maria.
Chúa đã trao Con Một của Chúa cho ngài;
Mẹ Maria đã tin tưởng vào ngài;
Chúa Kitô đã lớn lên thành người cùng với ngài.
Lạy Thánh Giuse diễm phúc,
Xin cũng hãy tỏ ra ngài là cha của chúng con
và hướng dẫn chúng con đi trên đường đời.
Xin ban cho chúng con ân sủng, lòng thương xót và lòng can đảm,
và xin bảo vệ chúng con khỏi mọi sự dữ. Amen.
Pope Francis’ Prayer to St. Joseph
Hail, Guardian of the Redeemer,
Spouse of the Blessed Virgin Mary.
To you God entrusted his only Son;
in you Mary placed her trust;
with you Christ became man.
Blessed Joseph, to us too,
show yourself a father
and guide us in the path of life.
Obtain for us grace, mercy and courage,
and defend us from every evil. Amen.
Cầu Nguyện Cùng Thánh Giuse
Suy niệm 7 Sự Vui Mừng và 7 Sự Đau Đớn Đức Mẹ, truyền thống Công Giáo cũng nói đến 7 Sự Vui Mừng và 7 Sự Đau Đớn Thánh Giuse bao gồm những kinh nguyện khi gặp gian nan, thử thách, khi kết hôn, khi dâng mình tận hiến cho Chúa, và khi dọn mình qua đời. 22 Thánh Phanxicô de Sales giới thiệu Thánh Giuse cùng với Đức Trinh Nữ Maria như những vị thánh cầu bầu mạnh thế. 23 Thánh Têrêsa Avila cho rằng sự khỏe lại của mình là do lời cầu bầu của Thánh Giuse, và hô hào mọi người sùng kính Ngài. 24 Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu thì quả quyết rằng Thánh Giuse là Cha và là Đấng Bảo Vệ Các Trinh Nữ. Thánh nữ cảm thấy rất an lòng, và được che chở khỏi những nguy hiểm khi cầu xin với Ngài. 25 Và Thánh Giáo Hoàng Piô X đã dọn một kinh cầu xin Thánh Giuse bắt đầu bằng: 26
Lạy Thánh Giuse, mẫu gương lao động cực nhọc,
Xin ban cho con ơn chu toàn bổn phận với tinh thần sám hối,
Để nhờ đó, đền bù được những tội lỗi con…
Ngoài ra, theo niềm tin tưởng cho rằng đặt một tượng Thánh Giuse trong nhà, Ngài sẽ che chở và gìn giữ mọi người, mọi vật trong nhà. Bởi vì Ngài đã từng hướng dẫn, và bảo vệ Thánh Gia. 27
Kinh Khấn Thánh Giuse Bảo Trợ Những Vụ Khó Khăn
“Lạy Thánh Giuse, xưa nay không ai kêu cầu Cha mà vô hiệu, Cha có thần thế trước mặt Đức Chúa Trời.
Lạy Cha hiền, xin cầu bầu cùng Chúa Giêsu cho chúng con. Khi ở thế gian này, Cha đã từng là Cha Nuôi và là vị bảo hộ trung thành của Chúa Con chí thánh, nay xin Cha bào chữa cho chúng con bên tòa Chúa. Chúng con trao phó cho Cha vụ khó khăn này (kể ra…). Xin Cha giải gỡ giúp chúng con, để thêm một vinh quang mới vào bao nhiêu vinh quang sẵn có của Cha.
Lạy Thánh Giuse nhân từ, chúng con tin tưởng – vâng, chúng con tin tưởng, Cha có thể chấp nhận lời nguyện của chúng con, và giải thoát chúng con khỏi những khổ cực u sầu mà chúng con đang gặp phải. Hơn nữa, chúng con vững lòng trông cậy, Cha không bỏ qua điều gì giúp ích cho những người sầu khổ kêu cầu Cha, chúng con sấp mình dưới chân Cha, tha thiết nài xin Cha đoái thương đến những than van khóc lóc của chúng con. Xin Cha lấy tình thương như áo choàng che phủ chúng con, và chúc lành cho chúng con – Amen. 28
Imprimatur
F.X Trần Thanh Khân
Tổng Đại Diện Gp Saigon
Tại sao thánh Giuse già vậy?
Tại nhiều nhà thờ, người ta trưng bày ảnh của thánh Giuse để tôn kính vị đã được Chúa chọn làm cha nuôi của đức Giêsu. Nhưng mà tại sao hầu như hết các bức tranh đều vẽ thánh Giuse như ông cụ già? Thánh Giuse được bao nhiêu tuổi khi Chúa Giêsu ra đời?
Thiết tưởng nên lưu ý là các hoạ sĩ không phải là nhiếp ảnh viên: họ không chụp lại tấm hình căn cước một nhân vật. Khi vẽ một bức tranh, kể cả bức tranh chân dung, các hoạ sĩ thường tô thắm thêm những nét diễn tả một tư tưởng hay cảm nghĩ gì nữa đó. Vì thế mà họ sẽ lựa chọn màu sắc của y phục, cũng như bày trí cảnh vật vân vân. Dù sao đi nữa, để hoạ lại chân dung của thánh Giuse, thì không hoạ sĩ nào có thể đóng vai của nhà nhiếp ảnh được, vì hai lý do: a) thứ nhất là thánh Giuse không có để lại một di ảnh nào, vì thế chẳng ai biết mặt mũi của ngài ra sao; b) nhất là, lý do thứ hai, không ai biết gốc gác lai lịch của thánh Giuse hết.
Phúc âm có nói về thánh Giuse đấy chứ?
Đúng như vậy, đặc biệt là Matthêu nói tới thánh Giuse khá nhiều trong hai chương đầu, vì vậy có người gọi Matthêu là thánh sử của Giuse (đối lại với Luca là thánh sử của đức Maria). Nhưng mà qua Phúc âm của Matthêu chúng ta chỉ biết được rằng Giuse là con ông Giacob (1,16) cũng giống như tổ phụ Giuse trong Cựu ước. Giuse đã đính hôn với Maria, nhưng mà Chúa Giêsu không phải sinh ra do sự giao hợp tự nhiên. Sang đến chương 2, thì chúng ta lại gặp Giuse ở cạnh đức Maria tại Bêlem khi ba vua đến tìm gặp Hài nhi Giêsu; và tiếp đó Giuse lại phải đưa hài nhi với bà mẹ lánh nạn sang Ai cập và từ đó trở về Nadarét. Có vậy thôi: chúng ta không biết được Giuse qua đời lúc nào, cũng như chúng ta không biết Giuse được bao nhiêu tuổi.
Dựa vào đâu mà vẽ thánh Giuse đầu râu tóc bạc như vậy?
Dựa vào những tác phẩm ngụy thư. Như vừa nói, trong toàn bộ Tân ước, Matthêu là người nói tới Giuse nhiều hơn hết, nhưng thánh sử chẳng cho ta biết nhiều chi tiết về tông tích Giuse, vì thế mà không khỏi để lại trong đầu óc chúng ta nhiều câu hỏi, khêu gợi tính tò mò muốn biết hơn về lai lịch của thánh Giuse. Các nhà chú giải Kinh thánh cận đại đã không ngừng nhắc nhở chúng ta rằng mục tiêu của bốn tác giả Phúc âm không phải là viết tiểu sử của Chúa Giêsu, nhưng tiên vàn là để loan báo một Tin mừng, tin mừng cứu độ. Trọng tâm của Tin mừng là cuộc tử nạn và phục sinh của đức Kitô, như chúng ta đọc thấy trong những bài giảng của thánh Phêrô trong sách tông đồ công vụ; kế đó, người ta kéo dài thêm một chút, tới những lời giảng và hoạt động của đức Kitô (quen gọi là cuộc đời công khai). Mãi về sau, người ta mới kéo dài thêm một phần gọi là nguồn gốc và cuộc đời thơ ấu của Chúa. Dù sao, trong Phúc âm của Matthêu, thánh Giuse chỉ xuất hiện như nhân vật phụ chứ không phải là nhân vật chính: Giuse được mời vào sân khấu bởi vì ông là con vua Đavít, nhờ vậy mà Chúa Giêsu cũng thuộc dòng dõi Đavit, và như vậy những lời tiên tri về Đấng Cứu thế thuộc dòng Đavit được thực hiện. Đó là lý do mà Matthêu kể lại gia phả của Giêsu từ đầu Phúc âm. Mặt khác, Matthêu cũng nhấn mạnh ngay từ khi thuật lại gia phả rằng Chúa Giêsu không phải là con của ông Giuse sinh bởi giao hợp vợ chồng. Vì thế ta thấy có sự gián đoạn mạch văn. Từ đầu, mạch văn của gia phả là ông A sinh ra ông B, ông B sinh ra ông C; thế nhưng tới cuối thì thay vì nói ông Giuse sinh ra ông Giêsu, thì Matthêu lại viết: “ông Giacop sinh ông Giuse, chồng của bà Maria, bà là mẹ Đức Giêsu”. Cảnh thiên thần hiện đến cho ông Giuse từ câu 18 đến 25 sẽ giải thích điều đó.
Những chuyện này có ăn thua gì đến ông thánh Giuse già hay trẻ đâu?
Có chứ! Chúng ta có thể tưởng tượng những người yếu bóng vía thì sẽ e ngại rằng nếu để ông thánh Giuse quá trẻ mà ở chung với cô Maria cũng còn trẻ, thì e rằng hai người khó mà giữ mình khiết tịnh được. Vì vậy, cho ông Giuse già đáng tuổi bố của cô Maria thì cô ta sẽ an tâm hơn. Tuy nhiên, như vừa nói, đó chỉ là mối bận tâm của những người yếu bóng vía, suy bụng ta ra bụng người. Các Kitô hữu đời xưa thì có mối bận tâm khác. Họ thấy rằng Phúc âm có nói tới các anh em của Chúa Giêsu. Tại sao có chuyện ấy được, khi mà tục truyền tin rằng đức Maria trọn đời đồng trinh, trước cũng như sau khi sinh Chúa Giêsu? Vì thế để giải quyết vấn đề, một số tác giả bèn nghĩ rằng những anh em đó phải được hiểu là các anh cùng cha khác mẹ với Chúa Giêsu; nói cách khác, ông Giuse đã có một đời vợ rồi và đã có con; sau đó vợ mất, ông Giuse ở góa một thời gian thì tục huyền với cô Maria.
Đến đây thì chúng ta bước sang các Phúc âm ngụy thư phải không?
Đúng vậy. Như đã nói trên đây, các Phúc âm nói rất vắn tắt về cuộc đời thơ ấu và ẩn dật của Chúa Giêsu kéo dài hơn 30 năm, đang khi mà cuộc đời công khai chỉ hơn kém 3 năm. Kế đó, người ta cũng muốn biết lai lịch, gốc gác của đức Maria và thánh Giuse nữa. Vì thế mà hàng lô truyền kỳ đã ra đời từ thế kỷ II, quen gọi là “ngụy thư”. Thực ra, theo nguyên gốc Hy-lạp “ngụy thư” (apocrypha) lúc đầu có nghĩa là sách giấu kín; và kế đó, nó ám chỉ những sách không được ghi vào sổ bộ Sách thánh; chứ không phải lúc nào ngụy thư cũng có nghĩa là sách nói bậy bạ. Chúng ta lấy một thí dụ: tác phẩm mang danh là “Tiền Phúc âm của Giacôbê” là một ngụy thư; thế nhưng chính từ tác phẩm đó, mà chúng ta biết được danh tánh của song thân đức Maria là Gioakim và Anna; cũng từ tác phẩm đó mà phụng vụ đón nhận lễ Đức Mẹ dâng mình vào đền thờ.
Tác phẩm ấy có nói gì về thánh Giuse không?
Dĩ nhiên rồi. Thực ra phần lớn của tác phẩm “tiền phúc âm của Giacôbê” dành để nói tới nguồn gốc lai lịch của đức Maria. Thánh Giuse xuất hiện vào lúc đức Maria thành hôn và mang thai. Theo đó, thì từ hồi 3 tuổi, đức Maria đã được dâng mình vào đền thờ. Đến tuổi dậy thì, thì thầy cả thượng phẩm phải tính chuyện lập gia đình cho cô. Nhờ ơn trên soi sáng, thượng tế hô hào các chàng trai tới, mỗi người mang một cái que và đặt trong đền thờ. Sáng hôm sau, thượng tế vào đền thờ cầu nguyện thì thấy các que còn y nguyên như trước, và mỗi chàng lại vác que về nhà. Thế nhưng còn sót lại một que của Giuse và chủ nhân được gọi tới; khi Giuse vừa lấy lại cây que của mình thì một con chim bồ câu thoát ra và đáp xuống trên đầu của Giuse. Thật đúng là dấu lạ. Nhưng Giuse không dám nhận Maria, viện cớ là mình đã già lại phải nuôi nấng một đàn con. Thầy cả phải doạ rằng nếu ai không tuân theo ý Chúa thì sẽ bị trời phạt; ông cụ sợ quá đành rước Maria về nhà.
Như vậy cụ Giuse lúc ấy đã già rồi hay sao?
Tác phẩm “tiền Phúc âm của Giacôbê” chỉ nói là Giuse góa vợ và đã có con, chứ không nói bao nhiêu tuổi. Nhưng câu chuyện chưa hết. Giuse nhận Maria về rồi thì để cô ta ở nhà, rồi ông ra đi kiếm việc làm. Đang khi đó, thiên thần hiện đến báo tin cho đức Maria về việc thụ thai và sinh hạ Chúa Giêsu. Sáu tháng sau đó, ông Giuse trở về nhà thấy bạn mình mang bầu: chúng ta có thể tưởng tượng được bi kịch đã diễn ra. May thay, đến đêm thiên thần hiện ra giải thích đầu mối nguyên do. Nhưng đó mới là chuyện nội bộ; đến lượt hàng xóm và nhất là vị Thượng tế trong đền thờ kêu Giuse lại mắng một trận vì đã xâm phạm tiết hạnh của bà Maria. Cả Giuse lẫn Maria đều một mực thanh minh thanh nga. Sau cùng để kiểm chứng, thượng tế bắt cả hai phải uống nước đắng theo luật của sách Dân số (chương 5) đã truyền khi có ai bị tố cáo về tội ngoại tình. Cả hai đều uống mà không bị nước hành: cả làng mừng rỡ tung hô Chúa. Và Giuse đưa Maria về nhà cho tới ngày đi Bêlem.
Có tác phẩm nào nói tới tuổi của cụ Giuse không?
Dĩ nhiên còn nhiều ngụy thư khác nói tới Giuse. Xét về tuổi thì có tác phẩm tựa đề “Tiểu sử của Giuse thợ mộc” xuất phát từ Ai cập vào khoảng thế kỷ IV-V, thuật lại những giây phút cuối đời của Người. Theo đó, Giuse qua đời lúc 111 tuổi. Tại sao lại già quá như vậy? Theo cha Benoit, nguyên giám đốc học viện thánh kinh ở Giêrusalem, thì tại vì Giuse trong Cựu ước qua đời lúc 110 tuổi, nên Giuse trong Tân ước phải cho cao hơn 1 tuổi. Cuộc đời của thánh Giuse diễn ra như sau: người lập gia đình lúc 40 tuổi; và sống với bà này được 49 năm, sinh được bốn trai hai gái. Như vậy, khi vợ mất thì cụ đã được 89 tuổi rồi; và ở vậy được một năm thì cụ được lệnh phải lấy cô Maria lúc đó mới có 12 tuổi. Hai năm sau thì cô Maria có thai. Và cụ qua đời khi Chúa Giêsu lên 19 tuổi. Và để cho tình sử thêm mặn mà thì tác giả thêm rằng trước khi nhắm mắt, thánh Giuse đã xin lỗi đức Maria bởi vì đã có lúc nghi ngờ người bạn của mình khi thấy bụng lớn.
Như vậy, nếu chuyện thánh Giuse già bạc đầu là do các ngụy thư đã bịa ra chứ không dựa theo chứng tích lịch sử, thì các hoạ sĩ tân thời có thể vẽ thánh Giuse trẻ trung tí chút có được không?
Như đã nói ở đầu, các nhà hoạ sĩ không phải là nhiếp ảnh viên, nên họ muốn vẽ thế nào là tùy sở thích của họ. Chúng ta đã thấy rằng các truyền kỳ về thánh Giuse lão bộc đã ra đời nhằm giải quyết vấn nạn về các anh em của Chúa Giêsu. Ngày nay, khoa chú giải kinh thánh tìm cách giải thích cách khác (anh em theo nghĩa là anh em họ), nên không cần tới giả thuyết anh em cùng cha khác mẹ nữa. Ngoài ra cũng nên biết là ngay từ thời Trung cổ, thánh Toma Aquinô đã bác bỏ những truyền kỳ đó, và quả quyết rằng thánh Giuse trinh khiết suốt đời (Summa Theol. III, q.28, a.3, ad 5m). Nhiều bức tranh cũng cho thấy thánh Giuse cầm cây bông huệ tượng trưng sự trinh khiết. Tuy nhiên, có lẽ nhân đức mà truyền thống đề cao hơn cả nơi thánh Giuse là sự vâng lời trong thinh lặng. Hình như tại Việt Nam cũng có bài ca “Giuse người âm thầm”: thực sự chúng ta không biết gốc tích của Người; như một nhân vật phụ trên sân khấu; xong việc rồi, thì Người rút lui vào hậu trường biệt tăm.
12 ĐẶC ĐIỂM CỦA THÁNH GIUSE MÀ MỖI NGƯỜI CHA NÊN NOI GƯƠNG
Hãy chiêm ngắm người cha trần thế của Chúa Giêsu để nhận ra vài lời khuyên cho các bậc làm cha.
Năm Kính Thánh Giuse mang đến một đại dương ân sủng của Chúa, bao gồm cả những bài học mà cánh đàn ông có thể học để trở nên một người cha tốt.
"Với trái tim người cha"
Đây là một năm hoàn hảo để đọc Tông thư được Đức Giáo Hoàng Phanxicô soạn thảo nhân dịp kỷ niệm 150 năm ngày công bố chọn Thánh Giuse là Bổn mạng của Giáo hội Hoàn vũ. Tông thư được đặt tên là “Patris corde,” trong Tiếng Việt là: “Với trái tim người cha” (đây là cụm từ mở đầu tông thư).
Năm Kính Thánh Giuse kéo dài đến ngày 8 tháng 12 năm 2021, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.
Khi đọc các sách Tin Mừng, chúng ta thấy khá ít tường thuật về Thánh Giuse. Tuy vậy, những tường thuật đó đủ để cho chúng ta thấy những nhân đức và những nét đặc trưng trong mối tương quan của ngài với Thiên Chúa, với Đức Trinh Nữ Maria và với Chúa Giê-su.
Trở nên một người cha tốt nhờ hiểu biết từ Thánh Giuse
Có bao giờ bạn tự hỏi làm thế nào để trở nên một người cha tốt nhờ vào gương sáng của Thánh Giuse? Trong bảng tóm tắt dưới đây, bạn sẽ tìm thấy 12 phẩm chất của Thánh cả Giuse có thể áp dụng vào cuộc sống của mỗi người cha:
1. NGƯỜI “CÔNG CHÍNH”
Đối với người Do Thái, thành ngữ "người công chính" ít nhiều tương đương với việc gọi ai đó là thánh. Thánh sử Matthêu dùng nó để mô tả Thánh cả Giuse (Mt 1,19). Ngài là một người luôn tìm kiếm để thấu hiểu và sẵn sàng thực thi Thánh ý Thiên Chúa, thậm chí phải trả giá bằng sự đau khổ và hy sinh. Chẳng hạn, chúng ta thấy Người luôn tuân giữ Luật Môsê trong Lễ Tiến Dâng Chúa Hài Đồng tại Đền thờ (Lc 2: 22,27,39). Ngài cũng vâng lời với cách đáp trả bốn thị kiến trong những giấc mơ mà Ngài đã được mặc khải (x. Mt 1,20; 2: 13,19,22).
2. NGƯỜI CHE CHỞ VÀ BẢO VỆ
Để bảo vệ Chúa Giêsu khỏi vua Hêrôđê, kẻ muốn giết Chúa Giêsu vì tin rằng Người sẽ chiếm đoạt ngai vàng của ông ta. Thánh Giuse quyết định chịu cảnh tha hương cùng Đức Maria và Chúa Hài đồng ở Ai Cập. Tại đó, ngài sẵn sàng sống như một người ngoại quốc trong khi là một người Do Thái (x. Mt 2,13-18) cho đến khi có điều kiện trở về quê hương Israel.
3. BÌNH DỊ
Khi trở về từ Ai Cập, Thánh Giuse không hoàn toàn tin vào những gì vua Hêrôđê con có thể làm với Hài Nhi Giêsu. Vì thế, Ngài chọn một cuộc sống bình dị và không gây chú ý tại Nazareth - một ngôi làng nhỏ. Đối với người Do Thái, Galilê không phải là một nơi có thế giá: họ cho rằng “không một ngôn sứ nào xuất thân từ Galilê cả” (Ga 7:52). Và chính Nathanael đã hỏi Chúa Giêsu, "Từ Nazareth làm sao có cái gì hay được?" (Ga 1,46) Thánh Cả Giuse chọn cuộc sống bình dị để tập trung vào một điều quan trọng: đó là Đấng Mêsia có thể hoàn tất sứ mệnh cứu chuộc của Người.
4. CON NGƯỜI HÀNH ĐỘNG
Thánh Giuse – một người thực tế, quyết đoán và giàu nghị lực. Ngài luôn phải đưa ra những quyết định khó khăn và quan trọng, chẳng hạn như, phải làm gì trong mối liên hệ giữa Ngài với Đức Trinh Nữ Maria khi phát hiện ra rằng Maria sắp sinh một con trai (Người là Con Thiên Chúa). Ngài phải lên kế hoạch cho chuyến đi Bêlem để đăng ký điều tra dân số trong khi Đức Maria đang mang thai. Và chúng ta có thể tưởng tượng Thánh Giuse đã phải thiết lập và tháo dỡ xưởng mộc của mình ở bất cứ nơi nào ngài đến để nuôi sống gia đình mình. Lòng nhiệt thành và quan điểm thiêng liêng của Thánh Giuse không mâu thuẫn với việc ngài là một con người hành động.
5. KHIÊM NHƯỜNG
Thánh Cả Giuse chắc chắn đã cố gắng làm những gì có thể để chuẩn bị thật chu đáo cho sự giáng sinh của Hài nhi Giêsu, nhưng vì sự việc lại diễn ra tại Bêlem, nên thánh nhân phải chấp nhận rằng Đấng Messia đã phải sinh ra trong máng cỏ vì “không tìm được chỗ trong nhà trọ” (Lc. 2: 7). Ngài thích nghi và cố gắng làm những gì tốt nhất cho Con Thiên Chúa trong cảnh huống này.
6. YÊU THƯƠNG
Ở bên cạnh Đức Trinh Nữ Maria, một người đàn ông có thể cư xử như thế nào khi hiểu hết được sự cao cả trong sứ mệnh của mình? Thánh nhân biết ngài đang chăm sóc Đức Mẹ một cách đặc biệt, Mẹ là mẹ của Chúa Giêsu – Đấng là Thiên Chúa thật và người thật. Ngài cũng ý thức rằng ngài mang trọng trách là cha nuôi của Đấng Messia. Chúng ta có thể thừa nhận Thánh Giuse là một người cha yêu thương, dịu dàng, gần gũi, ân cần, nhân hậu, vui vẻ, nhưng không làm giảm đi sức mạnh và quyền thế của mình.
7. CAN ĐẢM
Khi biết Đức Maria sẽ là Mẹ Thiên Chúa, Thánh Cả Giuse đã nhận lấy tư cách làm cha hợp pháp của Chúa Giêsu và làm theo lời sứ thần phán: “Ngươi phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu vì chính người sẽ cứu dân người khỏi tội lỗi của họ (Mt 1:21).
8. KHIẾT TỊNH
Thánh Giuse là người thuộc dòng dõi hoàng tộc trong dân Do Thái. Lẽ ra, ngài có thể có một cuộc hôn nhân đơm hoa kết trái và có những đứa con ruột. Nhưng Thiên Chúa có một dự định khác, và Thánh Giuse được chọn làm cha "nuôi" của Chúa Giê-su. Ngài sẽ giữ khiết tịnh, sẽ bảo vệ và cư xử với Đức Maria và Chúa Giêsu với lòng tôn trọng tuyệt đối. Và Thánh nhân sẽ hiến chính bản thân mình cho sứ mệnh này với tất cả trái tim của ngài. Đó là lý do tại sao Giáo hội đã đặt Thánh Giuse làm bổn mạng của các gia đình: bởi vì ngài biết không điều gì ngoài tình yêu đích thực nên ngự trị trong một gia đình.
9. THỰC HIỆN QUYỀN THẾ
Tin Mừng Thánh Luca cho chúng ta biết rằng, sau sự kiện tại Đền Thờ ở Giêrusalem (con trẻ bị thất lạc và cuối cùng được tìm thấy), Thánh Gia trở về nhà và Chúa Giêsu “sống cùng cha mẹ Người” (Lc 2:51). Thánh Giuse thi hành quyền thế trong khi biết rằng ngài đang trong vai trò làm cha của Đấng là Thiên Chúa của ngài. Và sau đó kết quả được trưng dẫn trong chính Tin Mừng: "Đức Giêsu ngày càng khôn lớn, và được Thiên Chúa cũng như mọi người thương mến." (Lc 2:52).
10. ĐỜI SỐNG NỘI TÂM
Thánh Giuse phải làm việc, đi lại, nuôi sống gia đình hàng ngày, quan tâm khách hàng trong công việc làm mộc. Nhưng ngài không bao giờ sao lãng những giờ tương giao với Thiên Chúa: thánh nhân đặt câu hỏi, tìm kiếm câu trả lời và cách giải quyết, rồi ngài vâng theo. Ngài biết rằng trong ba người (Ngài, Đức Maria, Chúa Giêsu ), ngài là người cần Chúa nhất, và ngài không ngừng cầu nguyện. Trong cuộc sống hàng ngày, ngài tương giao trực tiếp với Chúa Giêsu và Mẹ Maria! Đó là lý do tại sao Thánh nhân là bậc thầy về đời sống nội tâm: Ngài có thể hướng dẫn chúng ta trong tình yêu thương.
11. CON NGƯỜI LAO ĐỘNG
Qua Tin Mừng, chúng ta biết rằng Chúa Giêsu là con của một bác thợ mộc (xem Mt 13:55). Thánh Giuse thuộc dòng dõi vua Đa-vít, nhưng ngài không giàu có và không sống cuộc sống như một người thừa kế: ngài đã làm việc bằng chính đôi tay của ngài để nuôi sống gia đình Nazareth. Ngài được biết đến như một người lao động tuyệt vời.
12. ĐÔI MẮT HƯỚNG VỀ THIÊN QUỐC
Thánh Giuse dâng mình cho những kế hoạch của Thiên Chúa, vì biết rằng điều quan trọng nhất trong cuộc đời là thi hành Thánh ý Thiên Chúa. Đó là tất cả những gì sẽ đưa ngài về thiên quốc. Ngài đã dẫn đưa gia đình mình lên đường và là người đầu tiên trong 3 người hoàn tất cuộc hành trình đời mình. Thật hợp lý khi nghĩ rằng khi ngài qua đời, Chúa Giêsu và Đức Mẹ đã ở cùng ngài. Đó là lý do tại sao ngày nay chúng ta có ngài là vị thánh bảo trợ cho một một cái chết lành; chúng ta cũng mong ước rời khỏi thế giới này như vậy, được bao quanh bởi Thánh Gia.
Tác giả: Dolors Massot
Chuyển ngữ: Viết Thanh
SỨ MẠNG THÁNH GIUSE TRONG CUỘC ĐỜI CHÚA KITÔ & HỘI THÁNH

NHẬP ĐỀ
Có nhiều cách thức trình bày chân dung của Thánh Giuse, cũng tương tự như có nhiều cách thức trình bày Đức Maria. Những cuốn sách soạn để suy gẫm trong tháng Ba dương lịch thường đề cao các nhân đức và phép lạ của thánh cả. Không thiếu tác phẩm được biên soạn dưới hình thức tiểu thuyết nhằm dựng lại cuộc đời gian truân của dưỡng phụ Chúa Giêsu. Về phía thần học, người ta chú trọng đến tương quan giữa Thánh Giuse với Đức Mẹ (hôn nhân và khiết tịnh) hoặc so sánh đặc ân (vô nhiễm nguyên tội, hồn xác lên trời).
Công đồngVaticanô II đã mở ra một hướng đi mới trong thần học về Đức Maria. Một đàng, thần học cần dựa trên các dữ kiện của mặc khải (Thánh Kinh và Thánh Truyền), chứ không thả hồn theo các giả thuyết; đàng khác, cần hướng đến vai trò của Đức Maria trong mầu nhiệm của Đức Kitô và của Hội Thánh. Chương VIII của hiến chế tín lý về Hội Thánh đã được soạn theo chiều hướng đó. Từ sau công đồng, khoa Thánh-mẫu-học đã tiến triển rất nhiều, cách riêng do sự thúc đẩy của đức Gioan Phaolô II. Tiếc rằng những sách viết về Thánh Giuse theo phương pháp thần học vừa nói vẫn còn ít. Trong tập sách này chúng tôi ước mong bổ túc phần nào sự thiếu sót đó, bằng cách trình bày vai trò của Thánh Giuse trong mầu nhiệm của Đức Kitô và của Hội Thánh, dựa theo tông huấn Redemptoris Custos của đức thánh cha Gioan Phaolô II (ban hành ngày 15/8/1989). Hướng đi này giả thiết hai điều:
1/ cần chú ý đến các dữ kiện của mặc khải, chứ không phải là các ngụy thư hay các mặc khải tư;
2/ cần nêu bật vai trò của Thánh Giuse trong chương trình cứu độ: ơn gọi của Người là phục vụ Chúa Cứu thế, và vì thế trở nên mẫu gương cho Hội Thánh trải qua mọi thời đại tiếp tục sứ mạng thông truyền hồng ân cứu độ.
Tập sách gồm ba chương.
Chương Một. Thánh Giuse trong Kinh Thánh
Chúng ta sẽ tìm hiểu vai trò của Thánh Giuse dựa theo các sách Tin Mừng, đặc biệt là trong các đoạn văn “Tin Mừng thơ ấu” của Thánh Matthêu và Luca. Những đoạn văn này không chỉ liên quan đến Thánh Giuse mà thôi nhưng còn liên quan đến Đức Maria nữa. Nói cách khác, việc tìm hiểu Thánh Giuse cũng giúp chúng ta hiểu biết hơn về Đức Maria cũng như sự hợp tác của cả hai vị trong sứ mạng phục vụ Chúa Cứu thế.
Ngoài ra chúng ta cũng nên phân tích vài đoạn văn của Cựu Ước mà Hội Thánh tiên khởi và các giáo phụ quen trưng dẫn để làm sáng tỏ vai trò của Thánh Giuse.
Chương Hai. Thánh Giuse trong Truyền thống Hội Thánh
Tân Ước để lại cho chúng ta hình ảnh của Thánh Giuse như một con người thầm lặng: Người không nói một lời nào. Thánh Giuse vẫn tiếp tục giữ thinh lặng trong lịch sử Hội Thánh: đang khi phụng vụ đã phát triển lòng tôn kính các thánh tông đồ và tử đạo ngay từ những thế kỷ đầu tiên, thì mãi đến thế kỷ XVII lễ Thánh Giuse mới được cử hành trong toàn thể Giáo Hội. Lãnh vực thần học được phát triển sớm hơn, bởi vì Thánh Giuse đã được đề cập ngay từ thời các giáo phụ và kinh viện, đặc biệt là Thánh Tôma Aquinô.
Từ cuối thế kỷ XIX, Thánh Giuse thường được nhắc đến trong các văn kiện Huấn Quyền, được đánh dấu bằng thông điệp Quamquam pluries của Đức Lêô XIII (15/8/1889). Tông huấn Redemptoris custos của đức Gioan Phaolô II (15/8/1989) muốn kỷ niệm biến cố đó, đồng thời cũng mở ra một hướng đi mới cho thần học về Thánh Giuse.
Chương Ba. Suy tư thần học
Dựa theo chiều hướng của văn kiện vừa nói, chúng tôi sẽ bàn về hai điểm:
1/ Vai trò của Thánh Giuse trong cuộc đời của Đức Giêsu, như là kẻ giữ gìn Đấng Cứu thế: Người là chứng nhân cho mầu nhiệm nhập thể và cho căn cước của Đức Giêsu. Điều này sẽ được chứng tỏ khi tìm hiểu tương quan của Thánh Giuse với Chúa Giêsu và với Mẹ Maria.
2/ Vai trò của Thánh Giuse trong đời sống của Hội Thánh. Thánh Giuse đã phục vụ Chúa Giêsu là đầu của Hội Thánh, và trở nên mẫu gương cho Hội Thánh trong việc phục vụ chương trình cứu độ. Tông huấn Redemptoris Custos đề cao vài nhân đức nổi bật nơi Thánh Giuse: đức tin; trung thành với bổn phận; thinh lặng chiêm niệm.
Sau những suy tư thần học, chúng tôi dành mục cuối cùng để tìm hiểu những hình thức phụng vụ và đạo đức dân gian dành để tôn kính thánh nhân.
Trong phần Phụ lục, chúng tôi sẽ trích đăng nguyên văn tông huấn Redemptoris Custos, mà tập sách này có thể được xem như một thứ giới thiệu và chú giải, nhân dịp kỷ niệm 380 năm ngày Cha Đắc Lộ đặt chân đến Cửa Bạng (19/3/1627), 40 năm ngày thành lập tỉnh dòng Đaminh Việt nam (18/3/1967), và 80 năm thành lập dòng Thánh Giuse Nha Trang (1/11/1926).
Lm Phan Tấn Thành, O.P.
Bí mật về cầu thang thánh Giuse

Câu chuyện ly kỳ về chiếc thang thánh Giuse của thành phố Santa Fe đã tạo niềm cảm hứng cho vô số tiểu thuyết và phim ảnh.
Nằm lọt thỏm trong miền tây nam nước Mỹ là Santa Fe, được mệnh danh là thành phố của đức tin. Vào đầu thế kỷ 19, cũng chính tại nơi này, một nhóm 7 nữ tu đã thiết lập một ngôi trường dành cho nữ sinh, và đến thời điểm phù hợp, họ xây một nhà nguyện. Đó cũng là cột mốc đánh dấu cho khởi đầu của huyền thoại về cầu thang thánh tại nhà thờ Loretto.
Những bí ẩn chưa có lời giải
Cầu thang của nhà nguyện Loretto ở thành phố Santa Fe, bang New Mexico, nổi tiếng với nhiều bí mật: danh tính của người đã tạo ra nó và điểm đặc biệt về vật lý trong cấu trúc của tác phẩm. Cho đến nay, vẫn chưa có ai đủ sức giải thích tại sao cấu trúc này có thể đứng vững mà không cần bất kỳ sự hỗ trợ nào. Có lẽ còn thêm một bí ẩn khác về cầu thang thánh: dù bậc thang được làm từ gỗ vân sam, nhưng không ai có thể xác định đích xác là loài cây nào thuộc chi vân sam, cũng như bằng cách nào loại gỗ đó xuất hiện bên trong nhà nguyện.
Vào năm 1852, nhà nguyện Đức Mẹ Soi Sáng (tên chính thức của nhà thờ Loretto) đã được xây dựng theo lệnh của Giám mục giáo phận Santa Fe lúc đó là Đức cha Jean Baptiste Lamy và được giao cho dòng Nữ tu Loretto chăm sóc. Khi nhà nguyện được xây xong, các thợ xây dựng phát hiện họ đối mặt một vấn đề không ngờ đến: không thể nào leo từ gian giữa của giáo đường lên chỗ ngồi của ca đoàn ở tầng hai. Hay nói cách khác, bản thiết kế ban đầu bị lỗi, trong khi chủ nhân bản vẽ là kiến trúc sư Antonio Mouly chẳng thể nào can thiệp được, vì ông đã qua đời. Khi các nữ tu bày tỏ ý định muốn xây cầu thang, nhóm thợ một mực khuyên họ nên từ bỏ ý định do không khả thi, một phần do nhà nguyện quá nhỏ không đủ chỗ để xây cầu thang bình thường. Cuối cùng, phía nhà thầu khuyên nên phá bỏ gác đàn của ca đoàn.
Thay vào đó, các nữ tu quyết định dâng lễ cầu nguyện với thánh Giuse, vị thánh bổn mạng của nghề mộc, với hy vọng ngài có thể giải quyết khó khăn này. Theo lời kể được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác từ giữa thế kỷ 19, khi kết thúc thánh lễ, một người đàn ông đã xuất hiện ở cổng nhà nguyện, cho biết mình có thể xây cầu thang như ý nguyện của các nữ tu, với một điều kiện duy nhất: ông phải được trao toàn quyền thực hiện công trình trong vòng bí mật. Các nữ tu đã đồng ý. Trong suốt 3 tháng, người lạ mặt nhốt mình bên trong nhà nguyện với một cây cưa, một cây thước và vài món dụng cụ đơn giản. Ông nhanh chóng biến mất sau khi xong việc mà không màng đến thù lao.
Chiếc cầu thang cao khoảng 6m, chỉ có 33 bậc thang nhưng xoắn đến 2 vòng. Con số 33 được cho là biểu tượng mầu nhiệm, vì đó chính là thời gian Chúa Giêsu ở trần thế. Cầu thang được đóng và đứng sừng sững nơi đó mà không cần bất kỳ cây đinh hoặc keo dán nào, cũng như chẳng cần phải có trục trung tâm hoặc đà ngang làm điểm tựa. Người thợ mộc chỉ dùng các chốt gỗ để đảm bảo các bậc thang gắn lại với nhau. Có thể nói, sự tồn tại của chiếc cầu thang đi ngược lại mọi quy tắc vật lý, và hầu như ai mới nhìn thấy cũng nghĩ rằng chẳng sớm thì muộn nó cũng đổ sụp. Cầu thang nguyên bản cũng chẳng có tay vịn, và một số nữ tu ban đầu sợ đến nỗi không dám đi thẳng lưng mà bò trên hai chân và hai tay. Phải đến năm 1887, tức 10 năm sau, các nữ tu cho gắn thêm phần tay vịn, còn vòng xoắn bên ngoài được tựa vào cây cột gần đó.
Người thợ biến mất
Theo truyền thuyết, khi các nữ tu liên lạc với những nhà mua bán gỗ địa phương với hy vọng có thể tìm ra tông tích của người thợ bí ẩn, không ai cung cấp được thông tin nào khả dĩ. Chẳng hề có hóa đơn bán hàng nào được tìm thấy, loại gỗ được sử dụng làm cầu thang cũng không phải xuất xứ bản địa, điểm gần nhất có thể xuất hiện loại gỗ này phải ở tận Alaska, tức cách đó khoảng 5.700 km. Thế là từ đó, cầu thang này được cho là nhờ phúc lành của thánh Giuse, và được đặt theo tên của vị thánh.
Tuy nhiên, theo trang historicmysteries.com, một sử gia tên Mary J. Straw Cook đã bỏ công sức nghiên cứu về thang thánh ở Sante Fe suốt 7 năm dài. Bà đã thu thập đủ chứng cứ cho thấy danh tính có thể của người thợ mộc bí ẩn, và qua đó viết thành cuốn sách tựa đề: “Loretto: The Seven Sisters and Their Santa Fe Chapel” (tạm dịch: “Loretto: Bảy nữ tu và nhà nguyện Santa Fe”), xuất bản năm 1984. Nữ tác giả cho hay đã tìm được một dòng trong sổ sách của các nữ tu vào năm 1881, theo đó họ đã trả tiền mua gỗ cho một người tên Rochas. Một bài viết trên tờ báo The New Mexican cũ cho thấy ông Rochas bị bắn trúng ngực khi đang ở nhà, và có thể ông chính là người thợ lành nghề đóng chiếc thang huyền thoại. Theo bà Cook, ông Rochas là người Pháp, đã đến Mỹ chỉ vì muốn đóng chiếc thang cho nhà nguyện ở Santa Fe với gỗ nhập từ quê nhà. Ông Rochas đã được chôn cất tại nghĩa trang Đức Mẹ Soi Sáng.
Bất chấp những thông tin trái chiều, sự tồn tại của chiếc thang vẫn được công nhận là điều kỳ diệu cho đến ngày nay. Nó trở thành đề tài của vô số tiểu thuyết, và thậm chí có cả bộ phim The Staircase chiếu rạp vào năm 1998 dựa trên câu chuyện huyền thoại về thang thánh.