Trước Ngưỡng Cửa “Hiệp Hành” & Bảy đức tính thiết yếu của một người truyền giáo

Ngày đăng: 2:09 AM - 07/01/2023

Trước Ngưỡng Cửa “Hiệp Hành”

Đức Thánh Cha Phanxicô chọn chúa nhật thứ nhất Mùa Vọng làm khởi điểm của tiến trình “Hiệp Hành”, cũng được nhiều vị gọi là Đồng Nghị, hoặc Đồng Hành ở cấp giáo phận là bước thứ nhất,  và được coi là quan trọng nhất của Thượng Hội Đồng Giám Mục với ba mục tiêu chính: Dân Chúa cùng hiệp thông, Dân Chúa cùng  tham gia, đóng góp, Dân Chúa cùng thi hành sứ mạng.

Chỉ mới đọc qua chủ đề, chúng ta cũng thấy thao thức và ước muốn cháy bỏng của Giáo Hội về một Giáo Hội “đồng tâm nhất trí”, đồng lao cộng tác, đồng hướng đồng hành, một Giáo Hội không cục bộ, bè phái, không ngăn cách, quan liêu, không  đấu đá, loại trừ. Nhưng cũng qua chủ đề được chọn, chúng ta thấy hiện tình của Giáo Hội: một  Giáo Hội đang gặp nhiều khó khăn thách đố từ bên ngoài, nhiều đối kháng, căng thẳng ngay trong hàng ngũ, và chính vì hiện tình này, mà Thượng Hội Đồng Giám Mục với chủ đề “Giáo Hội Hiệp Hành” được đề xướng, triệu tập.

Cùng một tâm tình với toàn thể Giáo Hội trong những ngày “khởi điểm” của “Hiệp Hành”, người viết xin được đóng góp một vài chia sẻ với tư cách người tín hữu trong Giáo Hội:

Danh từ Giáo Hội không luôn được hiểu giống nhau, bởi người ta nhìn Giáo Hội dưới những lăng kính khác nhau: có người phân biệt rành rẽ Giáo Hội như một thực thể độc lập với người thuộc về Giáo Hội; có người giản lược Giáo Hội vào phẩm trật, đồng hoá Giáo Hội  với các giám mục, linh mục; lại có người chỉ nhìn Giáo Hội như một thế lực được thể hiện qua những thành công xã hội, và thành quả thuần túy nhân văn.

Những cái nhìn  khác nhau về Giáo Hội đưa đến những thái độ khác nhau đối với Giáo Hội. Người giản lược Giáo Hội vào hàng giáo phẩm,  giáo sỹ sẽ khó có thể ở lại trong Giáo Hội khi phải đối diện với  tình trạng  giám mục, linh mục mất phẩm chất, sống ngược với Tin Mừng như những giám mục, linh mục bị truy tố vì tội ác ấu dâm; người đồng hoá Giáo Hội với quy chế, cơ cấu tổ chức rất khó có thể đặt niềm tin vào Giáo Hội khi cơ cấu của Giáo Hội thối nát vì tham ô, rạn nứt vì đấu đá, tranh giành quyền lực, và cơ chế ngày càng nặng nề tính phi nhân, phản Tin Mừng; người nhìn Giáo Hội như một thể chế, đế chế với thế lực, ảnh hưởng của trần gian sẽ chỉ quan tâm đến số lượng giáo dân, con số nhà thờ, trường học, cơ quan bác ái công giáo, mà quên yếu tính của Giáo Hội là Thân Thể mầu nhiệm Đức Kitô .

Để sống tinh thần “Hiệp Hành” của Giáo Hội, người Kitô hữu chúng ta được mời gọi chân nhận:

Đức Giêsu không mơ ước gì ở Giáo Hội ngoài “hiệp nhất trong tình yêu”. Ngài đã truyền dạy tất cả những ai muốn làm môn đệ Ngài, tức những ai muốn thuộc về  đoàn thể những người tin vào Ngài và đi theo Ngài loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa  “Hãy yêu thương  như Thầy đã yêu thương”, và  cho họ một huy hiệu chung, một dấu chỉ duy nhất để mọi người nhận ra họ là môn đệ của Ngài, đó là  họ có lòng yêu thương nhau (x. Ga 13,34.35), đồng thời Ngài dùng hình ảnh Cây Nho để trình bày tình yêu hiệp nhất của mọi thành viên trong Giáo Hội khi căn dặn họ: “Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy” (Ga 15, 4).

Ở lại trong nhau tức hiệp nhất nên một với nhau trong Đức Giêsu là Cây Nho mà tất cả là cành nho. Các cành gắn bó với nhau và cùng nhau kết hợp với Cây, nên không có tình trạng một cành nào đó chỉ muốn gắn liền với cây mà từ chối liên đới, gắn bó với cá cành khác của cây.

Thánh Phaolô dùng hình ảnh Thân Thể để diễn tả yếu tính hiệp nhất trong tình yêu của Giáo Hội, bởi tất cả các chi thể của thân thể  đều quan trọng, và hỗ tương nhau, nên “không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung” (1 Cr 13,25-26). Thánh nhân còn đi xa hơn khi qủa quyết trong Thân Thể Đức Kitô không những tất cả các thể đều quan trọng và có phận vụ riêng, mà còn nhấn mạnh: “Những bộ phận xem ra yếu đuối nhất thì lại là cần thiết nhất; những bộ phận ta coi là tầm thường nhất, thì ta lại tôn trọng hơn cả. Những bộ phận kém trang nhã, thì ta lại mặc cho chúng  trang nhã hơn hết. Còn những bộ phận trang nhã thì không cần chi cả. Nhưng Thiên Chúa đã khéo xếp đặt các bộ phận trong thân thể, để bộ phận nào kém thì được tôn trọng nhều hơn” (1 Cr 13,22-24).

Những dòng trên đây của thánh Tông Đồ dân ngoại như toả ra làn hương ngào ngạt của Tình Yêu hiệp nhất, khi những chi thể yếu đuối, tầm thường, kém trang nhã lại được các chi thể mạnh mẽ, xinh đẹp  tôn trọng, trân quý và vun xới, trang điểm cho. Đó là hình ảnh một Giáo Hội  huynh đệ, hiệp nhất  như lòng Chúa mong ước, khi cơ chế không trở thành cỗ máy vô hồn trong tay một số thành viên có quyền thế để sẵn sàng nghiền nát không thương tiếc  những thành viên yếu đuối, bé mọn, non dại khác; khi cơ cấu tổ chức không trở thành nguyên nhân phát sinh  đố kỵ, ghen tương, ganh ghét và nạn bè phái, kỳ thị giữa các thành viên; khi Giáo Hội không ưu đãi giai cấp khanh tướng thống trị và giập vùi giai cấp thần dân  cùng đinh, bị trị; khi những người được trao trách nhiệm  qủan trị Giáo Hội không biến  thành những lãnh chúa, lãnh tụ thế gian “dùng uy mà thống trị”  (x. Mt 20,25), dùng quyền mà đe dọa, dùng lực mà trấn áp, dùng mưu mô, thủ đoạn mà ru ngủ, dụ dỗ dân lành; khi thần quyền không trở thành khí giới vạn năng  trong tay  những “thừa tác viên”  được chọn thay vì để phục vụ cộng đoàn lại bắt cộng đoàn phục vụ và đáp ứng nhu cầu bản thân, hoàn toàn  trái ngược đường lối của Đức Giêsu: “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em” (Mt 20,26-27).

Như thế, Giáo Hội là chúng ta, vì chúng ta là chi thể của một thân thể duy nhất có Đức Kitô là Đầu; vì chúng ta thuộc về Giáo Hội một cách sâu xa và thiết thân như cành gắn bó với cây, nên hiệp thông là yếu tính của người Kitô hữu, như Đức Giêsu, Đấng sáng lập và là Đầu Giáo Hội hằng mong ước và nguyện cầu: “Lạy Cha, xin cho chúng nên một, như Cha ở trong con, và như con ở trong Cha” (Ga 17, 21 )

Thực vậy, bao lâu chúng ta còn nhìn Giáo Hội như  cơ chế nặng nề phẩm trật, như tổ chức rườm rà những  ban bệ,  mà không nhìn Giáo Hội như Thân Thể mầu nhiệm Đức Kitô, bấy lâu chúng ta còn mắc kẹt vì lún sâu vào tình trạng phân cách thứ bậc, phân chia quyền lực, phân biệt giai cấp, phân bì quyền lợi giữa các thành phần Dân Chúa là rào cản, tường thành không cho chúng ta làm thành một đoàn thể những người hiệp thông với nhau trong cùng một thân thể,  một Thần Khí, một niềm hy vọng, một đức tin, một Chúa, một phép rửa, một Thiên Chúa là Cha  (x. Ep 4, 4-6)

Vì thế sẽ rất khó đi vào việc tham khảo, đóng góp ý kiến cho Thượng Hội Đồng một cách hiêu quả ở cấp giáo phận, khi  giữa Giám Mục và  Linh Mục, giữa Linh Mục và giáo dân vẫn còn một khoảng xa cách biệt. Đây cũng là nỗi lo của Đức Thánh Cha, vì hơn ai hết, Ngài thấy rõ: tình yêu thương hiệp nhất trong Giáo Hội ngày càng xuống cấp, vì có quá nhiều yếu tố  trong cũng như ngoài Giáo Hội làm phân tán, chia rẽ đoàn thể những người đi theo làm môn đệ Đức Kitô.

Chỉ với cái nhìn Giáo Hội là Thân Thể mầu nhiệm, chúng ta mới có thể sống hiệp thông, và  cùng nhau bước đi  trong tình Hiệp Thông,  đồng hành với nhau trong Đức Ái, là mục tiêu thứ nhất và nền tảng của chương trình Hiệp Hành trong Giáo Hội dưới sự huớng dẫn và ơn phù trợ của Chúa Thánh Thần, bởi nhìn Giáo Hội một cách khác, không như Thân Thể mầu nhiệm Đức Kitô, chúng ta sẽ  dễ rơi vào cạm bẫy thường gặp của cơ chế là quyền lực, phe cánh, cục bộ, và cám dỗ khó tránh của cơ cấu là khuynh hướng độc tôn, độc đoán, độc tài khi nắm giữ trong tay thần quyền.

 

2/ Giáo Hội là Giáo Hội “được sai đi ”:

Nếu Giáo Hội không là đoàn thể những người tin vào Đức Kitô và được Ngài sai đi cho một sứ mạng chung là: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19-20), thì  chúng ta không có lý do để hợp tác, tham gia, đóng góp, như mục tiêu thứ hai được Thượng Hội Đồng Giám Mục  lần thứ XVI  đề ra, bởi nói đến tham gia là nói đến cùng một sứ mạng, cùng nhắm chung một mục đích, bởi không cùng mục đích, không cùng sứ mạng, thì  tham gia, đóng góp sẽ không có giá trị và trở nên vô nghiã.

Tại sao chúng ta cần quán triệt và xác tín:  tất cả người Kitô hữu, nhờ bí tích rửa tội đều được sai đi để cùng thi hành một sứ mạng chung? Thưa, đó là ý muốn của Thiên Chúa, là lệnh lên đường của Đức Giêsu khi sai chúng ta ra đi để  làm nhân chứng sống động, làm ánh sáng muôn dân, làm muối men cho đời (x. Mt 5,13.14 ; 13,33), nên không ai có thể  tự cho phép mình độc quyền làm chứng Thiên Chúa yêu thương và cứu chuộc nhân loại, độc quyền rao giảng Tin Mừng, độc quyền loan báo Nước Thiên Chúa. Trái lại, bí tích rửa tội tháp nhập những người đáp lời mời gọi đi theo Đức Giêsu vào Thân Thể Ngài là Hội Thánh; bí tích rửa tội mở ra cho tất cả những ai tin vào Đức Giêsu con đuờng truyền giáo; bí tích rửa tội đặt trên vai tất cả những ai đi theo làm môn đệ Đức Giêsu sứ vụ xây dựng Giáo Hội.

Chính vì tất cả chúng ta cùng được kêu gọi, cùng được chịu phép rửa, cùng được tháp nhập như các chi thể vào Thân Thể Đức Kitô mà mỗi người Kitô hữu chúng ta có trách nhiệm cùng  tham gia, cộng tác, đóng góp xây dựng Giáo Hội với tất cả tình yêu.

Do đó, khi dành quyền thi hành sứ mạng loan báo Tin Mừng cho riêng mình, vì cho mình là “số ít  được chọn trong đám đông” và được “độc quyền sứ mạng”  khi coi giáo dân như những con chiên, con cừu ngu dốt, ít học, kém đạo đức, không biết gì và không tín nhiệm, không chia sẻ, không tạo cơ hội cho họ cùng loan báo Tin Mừng, thì  hàng giáo phẩm, giáo sĩ khó có thể kêu gọi giáo dân  cùng tham gia, đóng góp, cộng tác với mình trong công tác xây dựng Giáo Hội với tình yêu và tinh thần trách nhiệm, như các chi thể của một thân thể duy nhất yêu thương nhau và trách nhiệm trên sự sống và hạnh phúc của  nhau, mà không bàng quan, thờ ơ, thụ động, tiêu cực.

Vì thế, phải khởi đi từ sứ mạng chung, bắt nguồn từ ơn gọi chung “được sai đi loan báo Tin Mừng”, các thành phần Dân Chúa mới có thể  chân thành và hăng hái cùng nhau tham gia, đóng góp xây dựng Thân Thể mầu nhiệm Đức Kitô là Hội Thánh.

Quả thực bao lâu còn sống chết với não trạng sứ mạng loan báo Tin Mừng chỉ dành cho “người có thánh chức”, và những người được chọn này chủ trương chính sách độc quyền sứ mạng, thì bấy lâu sự hợp tác, tham gia chân thành và tích cực của thành phần giáo dân vẫn chỉ là hạt muối bỏ bể, khác xa cách tham gia, cộng tác theo đòi hỏi của Tin Mừng: tham gia vào sứ mạng với tinh thần khiêm tốn, xóa mình; cộng tác để hoàn thành sứ mạng với tinh thần phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa mà  thánh Phaolô đã làm gương và không ngừng  nhắc nhở các giáo đoàn khi viết: “Vậy Apôlô là gì? Phaolô là gì? Đó là những tôi tớ đã giúp cho anh em có đức tin, mỗi người đã làm theo khả năng Chúa ban. Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Vì thế kẻ trồng hay người tưới chẳng là gì cả, nhưng Thiên Chúa, Đấng làm cho lớn lên, mới đáng kể. Kẻ trồng, người tưới đều như nhau, nhưng ai nấy sẽ đươc thù lao tùy theo công khó của mình” (1 Cr 3,5-8)

 

3/ Giáo Hội là Giáo Hội đồng hành trên đường sứ mạng:

Được cùng sai đi cho một sứ mạng chung là “Loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến” (x. 1 Cr 11,26) , nhưng mỗi người  được trao một sứ vụ riêng, như mỗi chi thể có một nhiệm vụ trong thân thể duy nhất, mỗi bộ phận giữ một cơ năng đặc thù, đặc biệt, nhưng liên đới thiết thân, gắn bó chặt chẽ và luôn ảnh hưởng trên nhau, đến nỗi bất cứ một chi thể nào đau yếu, thì các chi thể khác cùng chia sẻ, chịu chung nỗi yếu đau; bất cứ bộ phận nào có vấn đề, thì toàn thân bất an, bất ổn, nên sẽ không có chuyện mắt bảo tay: “Tao không cần đến mày”, hay đầu  bảo hai chân: “tao không cần chúng mày” (x. 1 Cr 12, 21).

Cũng thế, Giáo Hoàng, Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ, Giáo Dân, tất cả đều chung một sứ mạng, nhưng không cùng sứ vụ: giám mục có sứ vụ của giám mục, linh mục có sứ vụ của linh mục, tu sĩ có sứ vụ của tu sĩ, giáo dân có sứ vụ của giáo dân, và tất cả các sứ vụ riêng biệt ấy đều quy hướng về một sứ mạng chung; tất cả các hoạt động đặc thù ấy đều có cùng mẫu số chung là phục vụ, xây dựng Giáo Hội; tất cả các đoàn sủng, tức “ơn đấng bậc” ấy đều có chung một mục đích là xây dựng Giáo Hội.

Vì thế, không có tình trạng “căm thù và đấu tranh giai cấp” giữa các thành viên thuộc Giáo Hội, không có “đấu đá tranh giành, mưu mô luồn lách chạy chức chạy quyền” trong Giáo Hội, càng không thể để xảy ra cảnh “ghen tỵ, bôi bác, so đo, loại trừ” dựa trên thành quả hay thất bại của sứ vụ, vì trên hết và trước hết, Giáo Hội không là xí nghiệp, cơ sở kinh doanh, cũng không chỉ là tổ chức trần thế với cơ cấu tổ chức  chặt chẽ, nhưng là một Thân Thể duy nhất có Đức Giêsu là Đầu.

Ở đây, chúng ta cần lưu ý: vì Giáo Hội là tập thể những người đi theo và tin vào Đức Giêsu ở trần gian, đoàn thể môn đệ Đức Giêsu còn trên đường dương thế, nên nhu cầu tổ chức với cơ cấu phẩm trật và nội quy, kỷ luật là nhu cầu chính đáng và cần thiết. Tuy nhiên, không vì thế mà Giáo Hội được phép tự trói buộc, khép kín, giam hãm mình trong cơ chế; đặt sự hoàn hảo, hiệu lực của cơ chế thành lý tưởng, tiêu chuẩn của Giáo Hội, vì Giáo Hội là gia đình của Thiên Chúa với những đứa con tự do được bao phủ bởi ơn Chúa Thánh Thần, Đấng như “Gió  muốn thổi đâu thì thổi”, và không ai biết “gió từ đâu đến và thổi đi đâu” (Ga 3, 8) nên không ai được quyền dập tắt Thần Khí như thánh Phaolô đã cảnh báo (x. 1Tx 5, 19).   .

Quả thực, chỉ với niềm xác tín trên, chúng ta mới có thể nói đến khả năng  đồng hành, cùng nhau “đến nơi được sai đi”, mà không kỳ thị, phân biệt giữa các thành phần, phẩm trật; chỉ với tinh thần của “toàn thể dân Chúa cùng được sai đi cho một sứ mạng, nhưng không cùng sứ vụ”, người giáo dân mới cảm thấy không bị các Đấng Bậc coi như bầy chiên, bầy cừu chỉ biết bảo sao nghe vậy, khúm núm thưa bẩm, miễn cưỡng đồng tình, thụ động đồng ý, ấm ức đồng hành là nguyên nhân phát sinh và  âm ỉ nuôi lớn những bất mãn, bất đồng chờ ngày bùng nổ mà hậu qủa sẽ vô cùng khốc liệt, tai hại cho Giáo Hội.

Nhưng để có thể đồng hành, mọi thành phần Dân Chúa phải bắt đầu bằng lắng  nghe nhau. Đây là điểm rất yếu vẫn còn tồn tại vì ăn rễ qúa sâu trong Giáo Hội, khi các Đấng Bậc không quan tâm đến “sứ vụ” lắng nghe giáo dân, như chủ chăn biết lắng nghe tiếng chiên mình, mà Đức Giêsu đã ân cần căn dặn trong Tin Mừng Gioan khi mô tả  thái độ ân cần, gần gũi chiên  của Mục Tử nhân lành: “Chiên nghe tiếng của anh; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra. Khi đã cho chiên ra hết khỏi chuồng, anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. Chúng sẽ không theo nguời lạ, vì chúng không nhận biết người lạ” (Ga 10, 3-5).

Sở dĩ chiên nhận ra tiếng của chủ chăn, vì chủ chăn chân tình nói với chiên và  chú tâm nghe chiên nói. Nhờ thế, chủ chăn mới biết chiên mình, mới  đích thực là mục tử nhân lành như lòng Chúa mong ước, khi nói được những lời của Đức Giêsu mà không hổ thẹn: “Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi” (Ga 10,14).

Quả thực, có đối thoại mới có cảm thông, có nói và lắng nghe, chúng ta  mới biết nhau, hiểu nhau, thương yêu nhau là điều kiện để thực hiện muc tiêu đồng hành trên đường sứ vụ. Hơn thế nữa, có biết nói với nhau và  lắng nghe nhau, chúng ta mới có thể cùng nhau lắng nghe Đức Giêsu, như các chi thể quan tâm đến nhau và  biết cùng nhau làm theo ý muốn của Đầu.

Hình ảnh hai môn đệ cùng đi trên đường từ Giêrusalem về làng Emmau trong Tin Mừng Luca cho chúng ta thấy rõ hơn thế nào là đồng hành sứ vụ: Trên con đường của buổi chiều buồn ấy, hai môn đệ Đức Giêsu đã nói với nhau rất nhiều, và đã chú tâm lắng nghe nhau nói: “Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc vừa mới xẩy ra” (Lc 24,14). Những sự việc mới xảy ra là chuyện “Đức Giêsu Nadarét, Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh  đã nộp Người để Người bị kết án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá” (Lc 24,19-20).

Không chỉ kể về biến cố đau buồn vừa xảy ra, hai môn đệ còn chia sẻ niềm hy vọng Đức Giêsu là “Đấng Cứu Chuộc Ítraen”, và sự kiện phục sinh  đang gây ồn ào, khi có mấy bà trong nhóm họ đã ra thăm mộ Đức Giêsu ngay từ sáng sớm, “nhưng không thấy xác Người đâu cả”, khi về  các bà còn nói là “đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người đã sống lại” (x. Lc 24,21-24).

Và lạ lùng thay, “đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ” (Lc 24,15).

Cùng đi với hai môn đệ đang đồng hành và trò chuyện với nhau, Đức Giêsu trao đổi với họ về chính câu chuyện họ đang nặng lòng. Ngài đồng hành bằng lắng nghe họ nói, và giải thích ngọn nguồn, rành rẽ những gì họ chưa biết. Ngài không đồng hành một cách thụ động, nhưng đồng hành bằng chia sẻ với họ Lời Chúa, chia sẻ thao thức, băn khoăn, niềm vui nỗi buồn, thử thách, hy vọng của họ. Ngài còn  chia sẻ cả cơm bánh với họ khi “trời đã xế chiều và ngày sắp tàn” (x. Lc 24, 29).

Thực vậy, đồng hành không chỉ là đi bên nhau như những rôbốt vô hồn, nhưng đồng hành trên đường sứ vụ là vừa đi vừa trao đổi bàn bạc, vừa đi vừa chia sẻ cho nhau tình yêu thương và sự sống trong đức tin. Đồng hành trên đường sứ vụ còn là “vừa đi với nhau vừa đi với Chúa” bằng lắng nghe nhau và cùng  nhau lắng nghe Chúa, vì đoàn lữ hành được sai đi không tự mình thực hiện  hành trình sứ vụ, nhưng phải có Chúa dẫn dắt, phù trợ, bởi Giáo Hội là đoàn người cùng bước đi trên hành trình đức tin: tin vào Đức Giêsu là Thiên Chúa Cứu Độ và đi theo Ngài.

Trước ngưỡng cửa của Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ XVI, và ở điểm xuất phát của tiến trình “Đồng Nghị, Hiệp Hành”, người viết xin hiệp lòng cùng qúy Bạn và toàn thể cộng đồng Dân Chúa cầu xin ơn Chúa Thánh Thần xuống trên Giáo Hội, để Giáo Hội ngày càng trở nên “xinh đẹp, lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn, hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền”, nhờ “được thánh hoá và thanh tẩy” bởi Đấng đã yêu thương và hiến mình vì Giáo Hội (x. Ep 5,25-27).

Jorathe Nắng Tím

GPVO (24/12/2022) – Bạn muốn mang Đức Kitô đến cho thế giới nhưng không biết chắc mình có đang đi đúng đường hay không? Nhân dịp tuần lễ truyền giáo thế giới diễn ra từ ngày 16 đến 23 tháng 10, 2022, bạn hãy khám phá những nét đặc trưng của người truyền giáo là gì, theo Đức Giáo Hoàng Phanxicô.

Trong một bài diễn từ rất sống động được gửi cho các Hội Giáo Hoàng Truyền Giáo ngày 21 tháng 5, 2019, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhắc lại vài điểm cơ bản về truyền giáo đã được ngài viết trong Tông huấn Evangelii gaudium để phân biệt hạt giống tốt với cỏ dại. Theo ngài, người truyền giáo được nhận ra với nhiều phẩm chất…

 1.   NGƯỜI TRUYỀN GIÁO THÌ VUI VẺ

Đức Thánh Cha cắt nghĩa: “Nếu chúng ta đi theo Chúa Giêsu, hạnh phúc vì được Người lôi cuốn, người ta sẽ nhận ra điều ấy” và họ chỉ biết ngạc nhiên. Biết bao lần chúng ta đã từng có trải nghiệm này: một bộ mặt tươi cười có sứ thuyết phục hơn cả một bài diễn văn dài! “Niềm vui toát ra nơi những ai được lôi cuốn bởi Đức Kitô và Thần Khí của Người, đó là điều có thể làm cho mỗi sáng kiến truyền giáo trở nên phong phú và hiệu quả”.

Đức Thánh Cha lặp lại ở đây một nguyên tắc đơn sơ có vẻ như là một trong những sợi chỉ dệt nên sứ vụ giáo hoàng của ngài: chính nhờ sức lôi cuốn mà một linh hồn được hoán cải. Mầu nhiệm Cứu Chuộc có thể chinh phục trái tim của những người khác bởi vì “Đức Kitô tỏ mình ra cho chúng ta bằng cách lôi cuốn chúng ta”, ngài nhấn mạnh khi trích dẫn những lời của Thánh Augustinô. Đẹp biết bao khi thấy rằng Đức Giêsu không chỉ chinh phục ý chí chúng ta, Người cũng lôi cuốn sự vui thích của chúng ta!

2.   VUN TRỒNG LÒNG BIẾT ƠN VÀ MÓN QUÀ CHO KHÔNG

Đức Thánh Cha diễn tả rất đẹp: “Niềm vui loan báo Tin Mừng luôn luôn chiếu sáng trên cái nền của một ký ức biết ơn”. Giống như các môn đệ đã không bao giờ quên khoảnh khắc trái tim họ được Đức Kitô chạm vào, mỗi người chúng ta cũng có thể nhớ lại cuộc gặp gỡ của mình với Người và tạ ơn Người vì cuộc gặp gỡ ấy. Thực vậy, chọn đi theo một sứ vụ là “một phản ánh của lòng biết ơn”, một hệ quả của nó.

Đức Thánh Cha cắt nghĩa: “Đó là lời đáp của những người vì biết ơn mà trở nên dễ Chúa Thánh Thần, và vì thế trở nên những con người tự do”. Từ sự biết ơn này toả ra “phép lạ của sự cho không, món quà cho không chính bản thân mình”. Ngược lại, ngài cảnh giác chúng ta, sẽ vô ích và nhất là không thích hợp nếu chúng ta “trình bày sứ vụ và việc loan báo Tin Mừng như thể đó là một bổn phận bị áp đặt”, một kiểu “nghĩa vụ hợp đồng của những người đã được rửa tội”. Do đó, chúng ta phải biết tạ ơn vì được gặp Đức Kitô và như thé động lực truyền giáo của chúng ta sẽ được đổi mới!

3.   KHIÊM NHƯỜNG

Đức Giáo Hoàng cảnh báo: Không bao giờ có thể phục vụ sứ mạng của Hội Thánh “bằng thái độ kiêu ngạo”, coi các bí tích và các lời của đức tin Kitô giáo “như là một chiến lợi phẩm” mình đáng được. Bởi vì chân lý, đức tin, hạnh phúc và ơn cứu độ không phải là “tài sản riêng của chúng ta”, chúng ta phải loan báo Tin Mừng Đức Kitô với lòng khiêm nhường. Theo người kế vị Thánh Phêrô, nhân đức này rất khó đạt được, chúng ta chỉ có thể có nó bằng cách noi gương Đức Kitô, Đấng  đã dạy các môn đệ của Người, “Anh em hãy mang lấy ách của Thầy, và hãy học cùng Thầy, vì Thầy có lòng hiền lành và khiêm nhường, và anh em sẽ tìm được sự thư thái trong tâm hồn anh em” (Mt 11, 29). Bằng cách nhìn vào Đức Kitô, chúng ta sẽ tránh được mọi quan niệm lệch lạc về đức khiêm nhường.

4.   TẠO THUẬN LỢI, THAY VÌ BIẾN TIN MỪNG THÀNH GÁNH NẶNG

Đức Thánh Cha yêu cầu không được đặt «chướng ngại vật cho ước muốn của Chúa Giêsu, vì Người cầu nguyện cho mỗi người chúng ta và muốn mọi người được chữa lành và cứu rỗi». Đây dường như là một điểm then chốt đối với Đức Phanxicô. Một trái tim truyền giáo nhận ra những hoàn cảnh thực tế mà người ta đang sống, «với những giới hạn, những tội lỗi, những yếu đuối của họ, và làm cho mình trở nên ‘yếu đuối với những người yếu đuối’», ngài tuyên bố.

Thế nên, theo Đức Thánh Cha, ra đi truyền giáo đôi khi phải là đi chậm lại “để cùng đi với những người bị bỏ lại bên đường”. Hội Thánh không phải là “một cơ quan thuế vụ”, và bất cứ ai tham gia vào sứ vụ của Hội Thánh bằng bất cứ cách nào đều được kêu gọi “không chất thêm những gánh nặng vô ích cho cuộc sống vốn đã nặng nề của người ta, không áp đặt những đường lối đào tạo rắc rối và vất vả để tận hưởng những gì mà Chúa ban cho một cách dễ dàng”.

5.   GẦN GŨI VỚI CON NGƯỜI

 Đức Giêsu đã không gặp các môn đệ “trong một hội nghị, một cuộc hội thảo đào tạo hay trong một đền thờ”, Đức Phanxicô hóm hỉnh nói, nhưng bên bờ hồ Galilê khi họ đang bận bịu với công việc của họ. Luôn luôn vẫn thế, “việc loan báo ơn cứu độ của Chúa Giêsu đến được với những con người tại chính những nơi họ đang sống và trong tình trạng thực tế của họ, trong đời sống cụ thể của họ”.

Cũng vậy, người môn đệ đích thực sẽ tìm gặp những con người trong đời sống thường nhật của họ “bằng cách tham gia vào các nhu cầu, các niềm hi vọng và các vấn đề của mọi người”. Thay vì “chế ra các hội nhóm “dành riêng”, tạo ra các thế giới song song, làm ra những cái bong bóng truyền thông để tuyên truyền những khẩu hiệu của riêng mình”, người truyền giáo phải tìm đến những nơi mình có thể gặp gỡ tha nhân. Một điểm gỡ nút thắt mời gọi chúng ta ra khỏi những cái vòng khép kín của mình.

6.   ƯU ÁI NGƯỜI NGHÈO

 Mọi người truyền giáo, nếu được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, sẽ “biểu lộ lòng ưu ái đối với những người nghèo và những người bé mọn, như là dấu chỉ và phản chiếu sự ưa thích đặc biệt của Chúa Giêsu đối với những con người ấy”, Đức Thánh Cha nhắc nhở như thế. Và ngài nói thêm, “Những ai tham gia trực tiếp vào các sáng kiến và các cơ cấu truyền giáo của Hội Thánh không bao giờ có thể viện cớ phải tập trung sức lực cho các công việc ưu tiên của sứ vụ ―là điều đa phần được sử dụng trong một số giới giáo sĩ― để biện minh cho sự thiếu chú tâm của mình đối với những người nghèo”. Không, dành sự ưu ái cho người nghèo “không phải là một chọn lựa tuỳ ý cho Hội Thánh”, theo lời Đức Thánh Cha. 

7.   ĐƯỢC THÚC ĐẨY BỞI CHÚA THÁNH THẦN

Tất cả những đức tính đặc trưng này sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu chúng ta quên mất điều cốt yếu: ngoài Chúa Thánh Thần, chúng ta không thể làm được gì. Mỗi người môn đệ truyền giáo phải luôn ghi nhớ điều này, “đó là chính Chúa Thánh Thần làm bùng cháy đức tin và giữ gìn đức tin trong các tâm hồn”, Đức Thánh Cha phát biểu. Thực vậy, chính Đức Kitô “làm chứng về Người qua các công trình Người thực hiện trong chúng ta và với chúng ta”.

Những người truyền giáo phải tin rằng Đức Kitô có “trái tim của họ trong quyền năng của Người”. Nếu chúng ta không tin khi cầu xin Người, Chúa thực sự không thể ban Thánh Thần của Người cho chúng ta, khi ấy “những lời cầu nguyện này không phải là đích thực mà là những công thức trống rỗng, “những cách nói”, những sở thích được áp đặt bởi thói quen của giáo sĩ”, Đức Thánh Cha đánh giá. Chúng ta có thực sự tin rằng Đức Kitô có thể thay đổi trái tim chúng ta không?

http://gpvinh.com/bay-duc-tinh-thiet-yeu-cua-mot-nguoi-truyen-giao-17301

Theo Aleteia, Jeudi 20 octobre | Sainte Adeline

Dom. Ngô Quang Tuyên – UBLBTM / HĐGMVN